Trên bến Lăng Vân

Sau khi từ biệt Kim đính Đại tiên, mấy thầy trò Đường tăng tiếp tục đi tới bến Lăng vân và “nhìn thấy một dòng nước cuồn cuộn, sóng vỗ tung trời, rộng tới tám chín dặm, bốn phía tịnh không một bóng người.” [TDK X 1988: 159]

“Bến này nguyên chỉ có một cây cầu độc mộc.” Đường tăng không chịu qua cầu, vì lẽ cầu ấy:

Muôn trượng cao một cọng cầu vồng.

Trơn như mỡ khó đặt chân…

[TDK X 1988: 159]

Tuy nhiên Tề thiên cứ nhất định bảo: “Phải bước qua cây cầu này mới thành Phật được chứ.” [TDK X 1988: 160]

Cây cầu trớ trêu ấy thực sự nằm chính trong thân con người. Trong phép tu thiền của đạo Lão và Cao đài, hành giả phải uốn cong đầu lưỡi cho đụng vào hàm trên, tạo thành cây cầu nối liền hai bờ, là hàm dưới và hàm trên. Động tác này tạo thuận lợi cho nước miếng tiết ra nhiều. Nước miếng (tân dịch) vốn được các đạo sĩ quý báu, coi là một “vị thuốc” thiên nhiên sẵn có trong thân mỗi hành giả (nội dược), dùng để luyện nội đơn cho thành chánh quả (đắc đạo).

Giữa lúc Đường tăng còn phân vân chưa dám qua cầu, bỗng có Tiếp dẫn Phật tổ mang thuyền đến rước qua sông. Truyện Tây du tả đoạn này rất khéo: “Tam tạng quay đầu, chợt nhìn thấy phía hạ lưu có một người đang chèo thuyền bơi tới, cất tiếng gọi to: Lên đò! Lên đò!” [TDK X 1988: 160]

Đọc kỹ đoạn này, cần lưu ý trình tự sự việc. Không phải vì Đường tăng nghe tiếng gọi đò trước mà sau đó mới quay đầu lại. Chính nhờ Đường tăng quay đầu lại trước nên mới gặp người lái đò đang tới.

Đò là để đưa người qua sông, sang tới bờ bên kia (đáo bỉ ngạn). Đường tăng quay đầu lại nhìn thấy đò tức là gặp được phương tiện để sang bờ bên kia (bỉ ngạn) cũng là bờ giác ngộ (bến giác) hay cõi Phật. Bờ bên này là luân hồi sanh tử (bờ mê).

Nói rằng Đường tăng quay đầu lại thấy đò, tức là sẽ thấy bờ bên kia; ở đây truyện Tây du muốn ám chỉ bốn chữ của nhà Phật: hồi đầu thị ngạn (quay đầu lại là bờ).

Con người phàm phu hướng ngoại cứ đi hoài trong cõi hồng trần, lênh đênh trên biển khổ sóng gió chập chùng (khổ hải vạn trùng ba). Nhưng trong tự thân con người đã có sẵn chủng tử của Phật (Phật tính), do đó, một khi con người sực tỉnh dừng bước giang hồ, quay đầu lại thì không còn tiếp tục đi sâu vào biển trần nữa, bến giác sẽ hiện ra.

Do triết lý đó mà có câu chuyện mười tám ông ăn cướp, vừa mới kịp buông dao giã từ đời oan khiên nghiệp chướng, lập tức đã trở nên thập bát la hán trang nghiêm cho đời sùng mộ, kính ngưỡng.

Trở lại chuyện chiếc thuyền (hay con đò). Nó không có đáy! Đường tăng hỏi người lái đò: “Thuyền của ngài là thuyền hỏng, không đáy, qua sông làm sao?” [TDK X 1988: 161]

Thuyền có đáy là thuyền hữu hình cõi tục. Nó chỉ có thể chở khách trần đi từ bờ mê này sang bến mê kia. Thuyền có đáy dù to đến mấy, sức chở người cũng có giới hạn.

Thuyền không đáy là thuyền vô hình cõi tiên cõi phật. Nó đưa khách trần lìa bến mê sang bờ giác. Nó không đáy mà chở người vô hạn. Không có sóng dữ nào nhận chìm được.

Chính vì huyền diệu như thế nên thuyền ấy được Phật tổ tán thán rằng:

Thuyền ta đây:

Thuở hồng hoang từng nổi tiếng,

Có ta đây chèo chống giỏi giang.

Sóng to gió cả vững vàng,

Không đầu không cuối bước sang cõi lành.

Quay về gốc, bụi trần chẳng bợn,

Muôn kiếp đày, thanh thản qua sông.

Thuyền không đáy vượt trùng dương,

Xưa nay cứu vớt muôn vàn sinh linh.

[TDK X 1988: 161]

Chiếc thuyền trên bến bến Lăng vân chính danh của nó là thuyền bát nhã. Phật gọi cõi đời này là sông mê, biển khổ. Qua sông vượt biển cần phải dùng thuyền. Con thuyền đạo pháp đưa chúng sanh đến bến bờ giải thoát hay niết bàn tịnh lạc chính là trí huệ, còn gọi là bát nhã (prajna).

thuyen bat nha

 

Con thuyền bát nhã (Soami, thế kỷ XVI)

Cái trí huệ bát nhã ấy không phải Phật đem trao, ban tặng cho chúng sinh, mà bản thân chúng sinh đã có từ lâu. Nó vô thủy vô chung (không đầu không cuối). Phật chỉ giúp đỡ cho chúng sinh tìm lại cái mà họ đã có sẵn. Phật chỉ là bà đỡ, bà mụ; chúng sinh phải đẻ chứ Phật không đẻ dùm! Chính do ý đó mà trong bài kệ về thuyền bát nhã, câu 2 nói thuở hồng hoang (tiên thiên); câu 5 nói không đầu không cuối (bất sinh bất diệt); câu 3 nói có ta (Phật) đây chèo chống

Phật là người đưa đò cho chúng sinh sang bến giác, chúng sinh phải xuống đò, phải tự bước lên thuyền mà sang sông. Nói cách khác, chúng sinh phải tự mình lên đường; Phật chỉ là người dẫn dường dắt lối, cho nên người đến đón thầy trò Đường tăng mới có pháp hiệu là Tiếp dẫn Phật tổ.

Bát nhã còn gọi là bát nhã ba la mật đa (prajna-paramita). Ba la mật đa (paramita) theo chữ Nho là đáo bỉ ngạn (qua tới bờ bên kia, bờ giác ngộ). Khi Đường tăng quay đầu lại thấy thuyền (hồi đầu thị ngạn), ấy mới chỉ là nhân. Có nhân vẫn chưa đủ, cho nên dù đã được Phật tổ bảo đảm sẽ đi qua tới bến giác, Đường tăng cứ mãi dùng dằng không muốn lên thuyền.

Phải chăng, đó cũng là tâm lý thế gian: làm phật tiên thời phần đông ai cũng muốn cũng ham, nhưng mà coi lại cõi trần, tuy bản chất (nói theo Phật) là khổ, nhưng hiện tượng (cảm nhận bằng trí phàm phu) cớ sao lại muôn màu muôn vẻ; chèng ơi, vui quá! Cho nên bỏ đi cũng chẳng đành! Bởi vậy, trong Cao đài có bài thơ làm chứng cho nỗi lòng thế nhân ở bên này sông, một chân dợm bước xuống thuyền, mà một chân còn trì vào bờ lưu luyến:

Điên đảo lòng con nỗi đạo đời,

Đời con rộn rực luyến mê chơi.

Đạo thì cũng muốn tu thành Phật,

Theo đạo thì con lại tiếc đời.

[Đại thừa chơn giáo 1950: 86]

Vậy, tuy có nhân rồi nhưng lại cần có thêm duyên. Cái duyên ấy sẽ dồn cho chúng sinh không còn phải lưỡng lự gì cả. Trong cuộc đời, đó là nghịch cảnh. Nghịch cảnh làm con người chán chường phồn hoa vật chất và hồi tâm nghĩ đến chuyện tu hành giải thoát. Ở Tây du, Ngô Thừa Ân mượn tay Tề thiên để tạo ra duyên:

“Hành giả đứng khoanh tay trước ngực, bất ngờ đẩy mạnh một cái, Tam tạng đứng không vững, rơi đánh ào một cái xuống nước, Phật tổ nhanh tay đỡ lấy, dắt xuống đò. Tam tạng vừa phủi quần áo vừa dậm chân oán trách Hành giả.”[TDK X 1988: 161]

Tâm lý của Tam tạng “oán trách Hành giả” cũng là tâm lý của Ngưu ma vương và bà La sát (Thiết phiến Công chúa), oán hờn thù ghét Tề thiên, vì Tề thiên đã trợ duyên cho Hồng hài nhi (yêu ma) trở nên Thiện tài Đồng tử nơi cõi Phật, hầu cận Quan âm. Cho nên, cái éo le cay đắng là nhiều khi làm ơn mắc oán.

Chú: Khi nghe Tề thiên nhận vợ chồng Ngưu ma vương vào vai vế anh chị, vợ Ngưu ma vương (bà La sát) liền trách mắng: “Con khỉ khốn kiếp kia, đã là tình anh em thân thiết, sao lại hại con ta?” (tr. 201). Còn Ngưu ma vương thì quát lên: “… cớ sao lại nỡ hại con ta là Ngưu Thánh anh ở động Hỏa vân, khe Khô tùng núi Hiệu? Ta đang căm giận nhà ngươi…!” [TDK VI 1988; 223]

Cũng vậy, lịch sử các tôn giáo hoàn cầu, từ Đông qua Tây, từ xưa tới nay, đều có một định lệ gần như bất di bất dịch: Anh mà đem đạo, đưa giáo lý tới cõi đời để cứu đời, thì chính người đời sẽ đóng đinh, sẽ bức tử, giam cầm, dè bỉu, chỉ trích anh thậm tệ. Bởi thế, trên đường sang Thiên Trúc gặp Phật, Đường tăng đâu phải chỉ riêng gặp tai ương với quỷ ma yêu quái, mà Đường tăng còn gặp cả những hiểm nguy giữa con người với con người, đồng loại với đồng loại. (Đường tăng ơi! Muốn đáo bỉ ngạn ư? Muốn đưa người sang sông ư? Nẻo về bên ấy chông chênh lắm!)

LÊ ANH DŨNG

(Trích trong tập “Giải mã truyện Tây Du”)

Share this:
Share this page via Email Share this page via Stumble Upon Share this page via Digg this Share this page via Facebook Share this page via Twitter
Print Friendly, PDF & Email

Leave a Reply