Dạy trẻ chậm phát triển diễn tả các trạng thái tình cảm

“tôi là ai ?”  

1- Trò Chơi GIẢ BỘ

Khi trẻ em lấy vỏ sò, vỏ hến làm chén đĩa, và dùng mọi thứ lá xanh đỏ tím vàng… trong vườn nhà, để làm nhiều món ăn cao lương mỹ vị, các em đang diễn lại những ngày kỵ giỗ trong gia đình hay là những buổi lễ hội trong làng xã, mà các em đã có dịp tham dự và chứng kiến. Khi nhiều trẻ em tụ họp lại để vui đùa, trò chơi giả bộ là phương tiện để các em học tập phân chia công tác, tổ chức đời sống xã hội, phác họa lại tất cả những biến cố quan trọng đã thực sự xảy ra trong thế giới người lớn. Khi chơi như vậy, một đàng các em hiểu biết rõ ràng rằng : bao nhiêu món ăn soạn ra không phải là món ăn thực sự. Cho nên, không một trẻ em nào bỏ vào miệng để nhai và nuốt. Các em chỉ phác họa cử chỉ đưa lương thực lên miệng, và mời nhau ăn mà thôi. Đàng khác, mỗi em đều tham dự cuộc chơi một cách rất nghiêm chỉnh và đứng đắn.

Nhờ trò chơi giả bộ, các em hình dung, tưởng tượng, nhớ lại, tổ chức, sắp xếp, tiên liệu… Nói được mọi thành tố của tư duy trừu tượng đều có cơ hội phát huy và triển nở.

Điều kiện tiên quyết tạo nên khuôn khổ để trẻ em có khả năng tổ chức trò chơi giả bộ là sự xuất hiện của những ý tưởng trừu tượng trong nội tâm. Những ý tưởng nầy được rút tỉa từ thực tại, do các giác quan ghi nhận và kết tạo lại thành thực thể tâm linh. Thực tại bên ngoài như lá cỏ, sò hến… chỉ đóng vai trò đại diện, thay thế một thực tại cụ thể không có mặt ở đây và bây giờ. Chẳng hạn khi trẻ em đang chơi đám giỗ với nhau, đám giỗ là một biến cố thuộc quá khứ. Hay đó còn là một ước mơ cho tương lai sắp tới sau này.

Những trẻ em nào không có vấn đề chậm phát triển, sẽ có khả năng tổ chức trò chơi giả bộ, một cách rất tự nhiên, tự phát, sau khi đã nắm vững những cơ bản về khả năng trao đổi, tiếp xúc qua lại hai chiều, chung quanh 3 tuổi rưởi. Trái lại, đối với trẻ em thuộc diện khuyết tật tâm thần, từ bại não cho tới hội chứng tự bế, hay là rối loạn sắc thể số 21… nguời lớn như cha mẹ, giáo viên cần phải can thiệp, dạy dỗ, đóng vai trò bắc cầu, làm trung gian, họa may các em mới từ từ phát huy và thành đạt khả năng GIẢ VỜ, LÀM BỘ, giống như một trẻ em phát triển bình thường, ở vào lứa tuổi từ 3 đến 5 năm.

Điều khó khăn nhất trong trò chơi giả bộ là vai trò hay là phần vụ  hình tượng của các sự vật được sử dụng. Trẻ em thường xuyên đưa thoi giữa hai bình diện : thực tế và tưởng tượng, bên ngoài và nội tâm. Lá cây trở thành các món ăn như tôm, chả, cá, thịt. Đá trở thành bánh kẹo đủ mọi loại. Vỏ óc và sò trở thành bát, đĩa. Đây không phải là vấn đề lẩn lộn giác quan, còn được gọi là lầm tưởng. Ví dụ, giữa ánh trăng mờ nhạt của đêm khuya, nhìn khúc giây thừng, tôi ngờ đó là con rắn. Trái lại, trò chơi giả bộ đòi hỏi nơi những trẻ em tham dự, ít nhất ba khả năng đã thuần thành:

– Thứ nhất là khả năng nhận thức của giác quan. Khi nhìn ngọn lá, trẻ em biết đó là ngọn lá. Khi giả bộ đưa lên mệng ăn, các em biết rõ ràng lá không phải là của ăn thực sự. Trẻ em ở trong thực tế, không hoang tưởng. Khi có những rối loạn về giác quan, như tôi đã trình bày trong chương trước đây, trẻ em sẽ không có những phân biệt bén nhạy như vậy. Các em có thể ghi nhận sai những tin tức khách quan cụ thể. Đàng khác, trong vấn đề hiểu biết và thuyên giải,  các em có thể lầm tưởng cái nầy với cái kia.

– Thứ hai là khả năng tiếp thu và lưu giữ những kinh nghiệm phong phú đã xảy ra trong quá khứ. Ý niệm về thời gian với ba chiều kích – quá khứ, hiện tại và tương lai – đã bắt đầu có mặt trong nội tâm của các em. Chẳng hạn khi chơi kỵ giỗ, các em hình dung lại những cơ hội mà các em đã tham dự hay là chứng kiến trước đây, và bây giờ những kỷ niệm ấy còn sống động và tạo ảnh hưởng trong tâm tư của các em.

– Thứ ba là nối kết những hành động hiện tại với bao nhiêu hình ảnh có liên hệ mật thiết với nhu cầu, ước mong, ý thích và dự phóng của các em. Chẳng hạn, khi chơi kỵ giỗ, các em gợi lại ít nhất hai ý thích là được ăn của ngon, vật lạ và được gặp lại rất nhiều bà con .

Chính vì ba lý do quan trọng vừa được trình bày, trò chơi giả bộ còn mang tên là trò chơi hình tượng, bởi vì nó chất chứa, tàng trử nhiều tầng lớp ý nghĩa có liên hệ mật thiết với đời sống tình cảm của những người tham dự. Giống như trong một giấc mơ, nhờ trò chơi giả bộ, trẻ em đang diễn tả những ước vọng thâm sâu của mình và thể thức các em hình dung, dự tưởng,  nhằm giải quyết những trăn trở, khắc khoải do cuộc sống tạo ra. Thêm vào đó, xuyên qua việc tiếp xúc, trao đổi và cách xử trí với nhau, tính tình của mỗi em xuất đầu lộ diện, với những đường nét độc đáo và riêng biệt. Trẻ nầy thích điều khiển, làm chủ nhà. Trẻ kia thích những điều quen thuộc như quét nhà, nấu ăn, soạn bàn.

2- Để giúp trẻ em học tập và phát huy khả năng giả bộ:

Trong lãnh vực trò chơi hình tượng, cũng như trong địa hạt tiếp xúc và trao đổi, chúng ta luôn luôn khởi đầu với một hành động có sẵn của trẻ em. Tiếp theo đó, chúng ta đưa vào từ từ một yếu tố giả bộ.

Ví dụ một:

Trẻ em đang chơi với con búp-bê của mình. Chúng ta đến với một con búp-bê khác. Sau một hồi lắng nghe, quan sát, chúng ta cho con búp-bê của chúng ta vào đề, với một giọng nói hơi khang khác giọng nói bình thường của chúng ta:

– Xin lỗi, bạn tên gì nhỉ? Mình tên Xuân. Cho phép mình đến chơi với bạn, được không ? Bạn đang làm gì đó?

Trường hợp trẻ em trả lời, chúng ta tùy vào hoàn cảnh để tiếp tục, sáng tạo. Nếu sau hai ba câu hỏi, trẻ em vẫn không trả lời.

– Bà ơi, sao con bà không trả lời cho cháu?

Truờng hợp trẻ em vẫn im lặng.

– Mẹ ơi, con buồn, con muốn chơi với bạn trước mặt. Bạn không trả lời cho con. Mẹ xin giùm cho con đi.

Theo nhịp điệu và cách thức ấy, chúng ta tiếp tục gợi ra ý kiến. Nếu trẻ em vẫn không phản ứng, chúng ta không quá nài nỉ. Hãy chờ đợi một dịp may khác. Sau nhiều lần làm quen, có lẽ trẻ em mới trả lời.

Ví dụ hai:

Trẻ em đang chơi xe. Chúng ta đến với con búp-bê, đưa tay chận lại và nói:

– Bà làm ơn chở cháu đi bệnh viện. Cháu ho quá nặng.

Nếu là em trai đang chơi xe, chúng ta dùng một chiếc xe khác, hay là một khúc gỗ làm xe, đụng vào xe của em.

– Ông này lái xe nhanh qua. Xuýt nữa gây tai nạn.

Ví dụ ba:

Chính lúc trẻ em đói bụng, xin ăn hay uống. Chúng ta bình tĩnh soạn ra một số vật liệu có sẵn, giả vờ làm kẹo bánh và nước cam. Sau khi soạn xong, chúng ta bắt đầu giả bộ ăn .

– Ngon quá, bánh này mẹ mua sáng nay ở chợ Bến Thành. Con ăn thử xem, có ngon không ?

Nếu trẻ em từ chối, chúng ta bảo em:

– Con chơi giả bộ một chút xíu. Sau đó, mẹ cho con ăn bánh thật, mẹ mua sáng nay.

Ví dụ bốn :

Khi có hai ba em, chúng ta mời :

– Mời Ông Bác sĩ uống trà.

– Mời Bà Y tá ăn bánh kẹo sô-cô-la.

– Mời Bác Công An ly nước cam sành.

Chúng ta gán cho mỗi trẻ em một chức vụ khác nhau, giống như những người láng giềng, trong cùng một khu phố hay thôn xóm.

Ví dụ năm :

Giữa lúc trẻ em chơi, chúng ta nhập cuộc, như một nhân vật của trò chơi, nói với con búp-bê của trẻ em , thay vì nói thẳng với trẻ em. Hay là chúng ta nói thay con búp-bê của trẻ em : Tôi đói quá. Tôi thèm ăn kẹo. Bạn thèm ăn gì bây giờ? Bạn  thích uống sữa  hay là trà đường?

Giữa lúc trẻ em đang chơi xe:

– Bạn đang lái xe đi đâu vậy? Mình muốn đi Sở Thú. Cho mình đây quá giang, được không?

 

Khi trẻ em cứ lặp lui lặp tới một trò chơi.

Sau một hồi quan sát, chúng ta thử đưa vào một ý hướng mới, nhưng vẫn tôn trọng chủ đề hiện tại của trẻ em.

Chẳng hạn, trẻ em cứ chơi mãi hoài với xe chữa lửa và thấy đám cháy khắp nơi. Chúng ta biến mình làm chủ nhà có con mèo bị kẹt vướng trên một cành cây. Chúng ta điện thoại gọi xe chữa lửa đến đem con mèo xuống.

Vào tiệm ăn, các em cứ gọi lui gọi tới « chè bắp » . Chúng ta làm cô bán hàng :

–  Thưa Bà, cháu hết chè bắp rồi. Bà có mua bánh ngọt không ? Cháu cũng có sữa cho con của Bà, Bà mua sữa giùm cháu đi.

Trẻ em cứ đặt lui đặt tới con búp-bê vào giường ngủ. Chúng ta tới làm con búp-bê từ chối :

– Không, không. Ngủ đủ rồi. Không ngủ nữa. Thôi, đi dạo Sở Thú đi. Đi xem voi, xem cọp…

Thoảng hoạt đưa vào trò chơi những VẤN ĐỀ thường ngày, những ý tưởng TRANH CHẤP và XUNG ĐỘT.  

Trẻ em đang chơi « Bác sĩ khám bệnh » :

Chúng ta mang tới con búp-bê từ chối không muốn vào khám.

* Thưa Bác sĩ, con tôi không nói được, nhờ Bác sĩ khám giùm. Ban đêm, cháu không ngủ. Cháu khóc nhè suốt ngày. Tôi cần làm gì?

Trẻ em đang chơi nấu ăn:

Khi con búp-bê của trẻ em mời ăn kẹo, con búp-bê của bạn từ chối.

* Thu này không ăn kẹo đâu. Thu này muốn ăn kem mà thôi. Đi mua kem cho Thu ăn đi.

Nhờ đưa vào những ý tưởng chống đối nầy, chúng ta có cơ hội phản ảnh cho trẻ em thấy được chính mình em và sau đó chúng ta lắng nghe cách thức em đề nghị giải quyết, trong trò chơi của em.

Đó cũng là một thể thức hành động, nhằm giúp trẻ em trở nên mềm dẽo và linh động hơn, biết học tập thích nghi với bao nhiêu vấn đề và nhất là với bạn bè khó tính trong cuộc sống hằng ngày.

Khi trẻ em chưa nói hay còn nói rất  ít :

Chúng ta dùng một vài câu, một vài từ rất ngắn và gọn, nhằm phản ảnh công việc em đang làm. Một cách đặc biệt, chúng ta lưu tâm nối kết ba yếu tố lại với nhau như  Ngôn Ngữ, Hành Động đang diễn tiến trong trò chơi và TÂM TÌNH XÚC ĐỘNG của trẻ em như vui sướng, hạnh phúc, bằng lòng, buồn nhớ mẹ, ghét và giận…Với phương thức phản ảnh, dần dần chúng ta tập cho trẻ em làm quen với những xúc động, công việc, đồ vật và những kinh nghiệm thường ngày.

Thương lượng :

Trẻ em càng tiến bộ về mặt ngôn ngữ, chúng ta càng tập cho các em biết thương lượng, bằng cách đặt ra những câu hỏi có liên hệ đến ý định và ước mong của các em.

Trẻ em muốn ra vườn.

– Tại sao em muốn ra vườn?

– Ra vườn để làm gì?

– Tại sao em ra bây giờ, mà không đợi ba về và cùng ra với ba.

Càng biết trả lời, trẻ em càng phát triển ngôn ngữ. Điều quan trọng hơn nữa là trẻ em biết suy nghĩ về hành động của mình. Và với cách làm nầy, trẻ em càng ngày càng phát huy tư duy hình tượng và trừu tượng của mình, nhờ  biết HÌNH DUNG những điều sắp làm.

Thay vì phản ứng bốc đồng, do hoàn cảnh bên ngoài thôi thúc, trẻ em từ từ thay đổi chiều hướng hành động : bắt đầu từ trong nội tâm. Các em ý thức mình có ý định làm gì, thích cái gì. Khi khởi sự từ bên trong như vậy, trẻ em sẽ dần dần phát huy đời sống tư duy, biết suy nghĩ trước khi hành động, biết đánh giá hành động.

Ví dụ: Trẻ em không muốn đi ngủ.

Phương pháp cỗ điển : cầm tay kéo nó vào giường và tắt đèn.

Thay vào đó, chúng ta dùng phương pháp thương lượng : lắng nghe ước muốn và nhu cầu của em, chính lúc ấy. Sau khi hiểu biết, đồng cảm với em, chúng ta có thể đề nghị một lối đáp ứng khác, nhưng vẫn cương quyết về giờ đi ngủ.

– Sáng mai, sau giờ học bài, con có thể xem Tivi, ba sẽ mở chương trình Zôrô cho con. Nhưng bây giờ, đi ngủ như em con. Ba cũng tắt đèn, đi vào phòng trong với con.

3. Ba bước đi lên trong tiến trình học nói :

Bước Một: Phát âm một cách tùy hứng, gặp đâu nói đó, nhớ gì thì phát ra một cách lộn xộn, chưa hẳn phản ảnh những gì đang có mặt trong môi trường chung quanh. Trẻ em nói : “Trời mưa” . Đang khi đó, chưa hẳn trời đang mưa . Trẻ em giống như một người mới học một ngoại ngữ, gặp hay nhớ một vật gì, thì tìm cách nói ra một từ ngoại ngữ có liên hệ đến vật dụng ấy.

Bước Hai: Phát âm nhằm diễn tả, trình bày ước muốn và ý định của mình. Chẳng hạn một người vào tiệm ăn, ở nước ngoài. Vì họ đói, họ muốn ăn, họ tìm mọi phương tiện để diễn tả mình muốn gì. Có khi họ dùng chỉ một từ. Khi khác, họ đưa tay làm dấu. Hay là họ tìm cách vẽ ra điều họ muốn ăn.

Bước Ba: Phát âm để trao đổi qua lại, thương lượng. Chẳng hạn hôm ấy bạn vào một tiệm ăn ở Thụy Sĩ, nhân một chuyến đi công du. Bạn thèm ăn hột vịt lộn. Cô tiếp khách trả lời cho  bạn : không có trứng lộn trong tiệm ăn ở Thụy Sĩ. Nếu bạn có khả năng ngôn ngữ, sau khi bạn trình bày ý muốn, bạn tìm hiểu thực tế của người đoi diện, nhất là khi họ không có điều kiện đáp ứng lời yêu cầu của bạn. Làm được những vòng trao đổi qua lại như vậy, để diễn tả mình, tìm hiểu người, và cuối cùng đi đến một sự đồng ý; đó là  nội dung và ý nghĩa của thương lượng. Thay vì làm như vậy, bạn có thể tức giận, bất mãn bỏ đi, tìm quán ăn khác. Thêm vào đó, bạn còn có thể phê phán : Thụy Sĩ thật quê mùa, mọi rợ. Không có một tiệm ăn nào có khả năng cung ứng cho bạn bốn chiếc vịt lộn. Đương khi đó, tại Thành phố Sài Gòn, bạn chỉ cần đi ra ở đầu đường, bạn có thể mua hằng chục tá…Chừng ấy nhận xét chứng minh một điều: học nói chỉ có lợi ích thực sự, khi ngôn ngữ cho phép chúng ta trao đổi, thương lượng, hiểu biết nhau. Và đơn vị trao đổi thương lượng đầu tiên là CHO và NHẬN. Nói đúng hơn, cho để nhận. Nhận để cho.

Trong chiều hướng ấy, thay vì ép buộc trẻ em lặp đi lặp lại từ nầy qua từ khác, như keo vẹt sáo cưởng, chúng ta hãy trao đổi với trẻ em :

* Con muốn gì? Xin gì?

* Đi tìm và mang lại cho mẹ cái muổng.

* Con biết mẹ đang cần gì không?

* Con thích mẹ bồng con đi chơi, phải không?

* Bây giờ, mẹ bận. Ba về, hai mẹ con sẽ đi chơi một vòng.

Nếu chúng ta ngày ngày xoáy lui xoáy tới bài học trao đổi, tạo quan hệ ấy, trẻ em thế nào cũng trở thành một chủ thể có khả năng sử dụng một phương tiện tiếp xúc. Và phương tiện nầy chưa hẳn là ngôn ngữ có lời. Trong cuộc sống, còn nhiều ngôn ngữ không lời thích ứng với cấp độ phát triển của mỗi trẻ em.

4.- Diễn tả XÚC ĐỘNG và TÌNH CẢM :

Để giúp trẻ em phát huy tư duy trừu tượng, chúng ta có ba chiều hướng tác động khác biệt nhau, nhưng bổ túc mật thiết cho nhau.

Chiều hướng thứ nhất là trò chơi giả bộ, còn mang tên là tư tuởng hình tượng.

Chiều hướng thứ hai là ngôn ngữ. Ngôn ngữ phải được hiểu như là phương tiện trao đổi, tiếp xúc, thương lượng. Nếu vì một lý do gì chưa thể xác định được, về mặt y khoa, trẻ em không thể phát huy ngôn ngữ có lời, các em sẽ phát huy một loại ngôn ngữ tương tự và tương đương, miển là từ ngày ra đời, nhu cầu tiếp xúc của các em được người lớn  coi trọng, nuôi dưỡng, khuyến khích và xúc tác bằng cách tạo ra mọi điều kiện thuận lợi.

Chiều hướng thứ ba là khả năng diễn tả, bộc lộ những xúc động và tình cảm. Lúc ban đầu, cách diễn tả còn mơ hồ, mông lung, lộn xộn. Nhưng dần dần, nhờ trò chơi, qua trò chơi, trẻ em sẽ bộc lộ rõ ràng hơn, bằng cách phân biệt nhiều tình cảm và nhiều khía cạnh khác nhau thuộc về một tình cảm duy nhất. Nếu quan sát trò chơi của trẻ em hay là lắng nghe các em phát biểu trong lúc chơi, chúng ta sẽ có thể khám phá những chủ đề sau đây :

– Nuôi nấng, đùm bọc:

Gấu mẹ đút cơm cho gấu con.

Búp-bê Mẹ thay áo quần cho con và đặt con vào giường.

Búp-bê ôm choàng mẹ, sợ mẹ ra khỏi nhà.

Với những trò chơi tương tự, trẻ em diễn tả nhu cầu được cha mẹ săn sóc lo lắng.

– Những chủ đề khác có liên hệ đến cuộc sống hằng ngày :

* Vui thích, reo mừng, nhảy nhót.

* Hiếu kỳ, mạo hiểm. Muốn khám phá những điều chưa biết.

* Quyền lực, sức mạnh, muốn làm cho kẻ khác vâng phục.

* Tức giận, tấn công, chinh phục.

* Trật tự, qui luật, điều có phép làm, điều không được phép.

* Lo sợ bị bỏ rơi, bị thương tích hay là bện hoạn.

* Tình thương, đồng cảm, chăm sóc kẻ khác.

* Làm chủ tình hình, điều khiển, kiểm soát, ra lệnh, trừng phạt.

Nhiều tình cảm khác nhau trong cùng một lúc :

Khi xúc động xuất hiện trong các trò chơi giả bộ, trẻ em đang DIỄN XUẤT một xúc động. Diễn xuất có nghĩa là đóng kịch. Cho nên, trong trò chơi giả bộ, trẻ em là một diễn giả.

Khi xúc động xuất hiện trực tiếp trong tác phong, trẻ em chỉ là tác nhân thừa hành, theo lệnh điều khiển của một sức ép đang khống chế các em. Trong những điều kiện sinh hoạt như vậy, theo lối nói của tâm lý học đương đại, trẻ em đang TÁC HÀNH một xúc động. Từ được dùng trong tiếng Anh là Acting out. Từ tương đương trong tiếng Việt Nam là “bùng nổ”.

Trong cả hai trường hợp trên đây, trẻ em chưa làm chủ xúc động của mình. Chừng nào trở thành chủ nhân, chủ thể, trẻ em sẽ diễn tả mình bằng ngôn ngữ thích hợp. Khả năng nầy đòi hỏi trẻ em phải biết tạo khoảng cách, nghĩa là nhìn mình, thấy mình, quan sát mình. Lúc bấy giờ các em mới có thể GỌI TÊN xúc động đang xuất hiện trong nội tâm. Khả năng tự quan sát như vậy mang tên là Ý THỨC về mình hay là LÀM CHỦ đời sống xúc động.

Trong thực tế, có khi cả ba loại trình bày, diễn tả ấy đang còn lẩn lộn, chồng chéo vào nhau, trong cùng một lúc. Để trẻ em thành đạt giai đoạn cuối cùng là diễn tả và hóa giải tình cảm, cha mẹ, thầy cô cần cho phép các em đi qua hai giai đoạn trước (tác hành và diễn xuất), một cách an toàn, theo cấp độ phát triển  và lứa tuổi. Cho phép có nghĩa là có mặt, gọi tên, phản ảnh và nhìn nhận xúc động của các em :

“Mẹ thấy con buồn. Con muốn khóc. Con cứ tự nhiên khóc, nếu con muốn. Sau đó, con nói cho mẹ biết con buồn thế nào. Con cần gì ? Mẹ làm được gì cho con?”

Trong cách phản ảnh nầy, người mẹ thực thi bốn động tác khác nhau như sau:

* Một là quan sát, ghi nhận : Mẹ thấy… mẹ nghe…

* Hai là nhận biết và gọi tên : Con đang BUỒN…

* Ba là lắng nghe nhu cầu của con : Chuyện gì đã xảy ra…Con CẦN gì ?

* Bốn là thương lượng : Con muốn gì? Mẹ làm được gì? Ngay bây giờ hay là sau này ? Con tự làm lấy hay là mẹ giúp con lúc đầu ?

Trong cách hành xử như vậy, người mẹ đã giúp trẻ em chuyển biến thể thức tác hành, diễn xuất thành diễn tả bằng ngôn ngữ. Từ đó, xúc động được tháo mỡ ra thành bốn thành tố : sự kiện, gọi tên, nhu cầu và ước muốn.

Khi làm được như vậy, trẻ em đang học chủ động, sáng tạo, trở nên một chủ thể.

Biết mình để giúp đỡ trẻ em

Diễn tả xúc động và tình cảm là một bài học thiết yếu cho cuộc sống thành người. Trong vai trò giáo dục, người lớn không những cho phép. Họ còn phải khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi và hướng dẫn trẻ em một cách liên tục, hữu hiệu. Tuy nhiên, như tôi đã nhấn mạnh từ đầu, đây là bài học rất khó dạy và khó học. Nếu người lớn không ý thức sáng suốt về mình và có khả năng làm chủ tình hình xúc động của mình, làm sao họ có thể hướng dẫn con cái hay là học sinh của mình?

Thêm vào đó, khi trẻ em tác hành và diễn xuất những xúc động của mình, rất thông thường chúng ta trở thành ĐỐI TƯỢNG của con cái và học sinh. Các em muốn tấn công chúng ta. Một cách thẳng thừng, các em  có thể sử dụng với chúng ta một giọng điệu ngang tàng, bướng bỉnh, đầy tức giận :

* Mẹ xấu, con ghét mẹ,

* Ba vũ phu, con không thèm nói chuyện với ba.

Trong lề lối giáo dục cỗ điển, cha ông chúng ta muốn tránh và đề phòng tối đa tình trạng hỗn xược nầy. Lối nói – có bề mặt khinh thường, nhưng chất chứa nhiều lo lắng và sợ hãi ở chiều sâu – mà quí vị thường dùng,  là « chơi với chó, có ngày chó liếm mặt ». Vì lý do tối thượng nầy, nhiều cha mẹ đã cố tình tỏ thái độ lạnh lùng, nghiêm khắc, và giữ khoảng cách với con cái. Tuy nhiên, đó chỉ là PHẢN ỨNG TỰ VỆ.

Ngày nay, nhờ Phân tâm học, chúng ta nhận biết rằng: Phản ứng tự vệ là một dấu hiệu bên ngoài của một tâm trạng lo sợ. Và khi lo sợ như vậy, chúng ta bóp méo, xuyên tạc thực tế khách quan bên ngoài. Thêm vào đó, khi phản ứng, chúng ta chỉ là đối tương. Chúng ta chưa làm chủ tình hình, chưa có khả năng nhận diện và đối diện một vấn đề, để giải quyết và khắc phục một cách tốt đẹp và hài hòa.

Cách chúng ta hằng trăm thế kỷ, về mặt thời gian, và hằng ngàn cây số về mặt không gian, người La Tinh đã có thái độ tương tự. Nguyên tắc giáo dục của họ còn lưu truyền đến ngày hôm nay là “DUM METUANT” . Miễn là chúng nó sợ.

Sợ và gây sợ hãi, cho dù phải dùng phương tiện khủng bố tinh thần, đó là nguyên tắc sắt thép, trong quan hệ giáo dục cổ điển.

Nếu chúng ta chọn lựa con đường giáo dục trên đây  “Miển là chúng nó sợ”,  suốt đời con cái, học sinh của chúng ta sẽ không có bầu khí an toàn nội tâm, để diễn tả xúc động và tình cảm của mình, một cách hồn nhiên, trung thực và thoải mái.

Thể thức tạo an toàn nội tâm trong quan hệ giáo dục :

Để can trường nâng đỡ trẻ em, trong chiều hướng học tập diễn tả tình cảm, chúng ta cần ghi nhận một số nguyên tắc hành động sau đây :

Chính khi trẻ em có hành động tấn công :

Khi trẻ em có hành vi xúc phạm và ngôn ngữ làm tổn thương chúng ta, chính khi ấy chúng ta nên ý thức sáng suốt rằng : trẻ em đang bị tràn ngập, không có khả năng làm chủ tình hình. Hơn bao giờ hết, các em đang cần chúng ta nâng đỡ, đùm bọc, chỉ dẫn và soi sáng, trong những lúc như vậy, để học làm người.

Thay vì cắt đứt quan hệ, rút lui, chưởi bới, trừng phạt… chúng ta vẫn lắng nghe, tìm hiểu, phản ảnh, nhìn nhận nhu cầu của các em. Chúng ta bắc cầu, cho các em từ từ “làm người”, nghĩa là có khả năng từ chối những gì không thích hợp và chọn lựa những điều thích hợp.

Chỉ trong trường  hợp các em có hành vi bạo động thực sư :

Chỉ trong trường hợp nầy, chúng ta phải lập tức dùng biện pháp cô lập hóa hay là chế ngự hành vi đang bùng nổ, để bảo vệ chính mình các em và những bạn bè chung quanh. Chúng ta cũng tuyệt đối không cho phép các em TÁC HÀNH trên chúng ta. Ngoài ra, thái độ đáp ứng thường xuyên của chúng ta là ĐỒNG CẢM. Đồng cảm vô điều kiện. Nhờ vào cách chúng ta biết đồng cảm, các em mới có thể học đồng hành, chia sẻ, trao đổi, thiết lập những quan hệ hài hòa và tôn trọng lẫn nhau. Nếu chúng ta không biết tôn trọng trẻ em, làm sao các em học tôn trọng chúng ta ? Học với ai ? Học ở đâu ? Học khi nào ?

Trường hợp chúng ta cảm thấy mình sắp mất bình tĩnh:

Khi quân bình nội tâm không vững vàng, chúng ta sáng suốt nhìn nhận, thú nhận nhu cầu của mình VÀ LẬP TỨC DỪNG LẠI : “Mẹ đang  thấy khó chịu trong mình. Mẹ cần nghỉ xã hơi vài ba phút. Sau đó, Mẹ nói chuyện lại với con” .

Nếu chúng ta đang săn sóc trẻ em dưới 5 tuổi, chúng ta nhờ người nào đó tiếp tay trong vài ba phút : “Mẹ đang khó chịu trong mình. Nhờ con thay mẹ lo cho em con, trong năm phút” .

Ngoài những trường hợp khẩn trương, như vừa được nói tới, chúng ta không tìm cách giải quyết, thay đổi, thoa dịu, an ủi. Lý do cơ bản là trẻ em có quyền bộc lộ, diễn tả xúc động. Và diễn tả như vậy không phải là điều xấu, cần sửa sai, ngăn chận, cấm đoán.

Ngược lại, chúng ta còn cho phép và khuyến khích : “Mẹ thấy con tức giận với mẹ. Con có phép nói ra hết nỗi tức giận của con cho mẹ nghe, để mẹ hiểu con. Sau đó, mẹ sẽ nói cho con hay ý định của mẹ” .

Càng cho phép và khuyến khích như vậy, chúng ta càng tạo nên quan hệ tin tưởng, hiểu biết và thân mật đối với trẻ em.

Nói tóm lại, xúc động và tình cảm, như một dòng nước, luôn luôn cần phải biến thái và lưu chuyển. Bị ứ động – từ chuyên môn trong Phân tâm học là DỒN NÉN – xúc động và tình cảm sẽ làm ô nhiểm toàn thể đời sống nội tâm của con người. Trái lại, khi được diễn tả và hóa giải, tình cảm là ĐỘNG CƠ thúc đẫy chúng ta xây dựng bản thân, tô điểm và làm đẹp toàn thể cuộc sống làm người của mình và những người hai bên cạnh.

MysticImage-397278452 (1)

 

5- Những trẻ em có vấn đề học tập

5.1- Với trẻ em loạn thính

Chúng ta cần dùng ngôn ngữ vắn gọn, đơn sơ, rõ ràng, có điệu bộ kèm theo. Khi chơi với loại trẻ em nầy, chúng ta cần di động và làm nhiều điệu bộ với các em. Càng diễn xuất, đóng kịch nhiều chừng nào, càng hay bấy nhiêu. Khi trẻ em phát biểu một ý tưởng, chúng ta tìm cách xoáy lui xoáy tới với một hai từ, mà các em nầy vừa phát âm.

Ví dụ trẻ em đang chơi xe ô-tô và tình cờ phát biểu: NHANH. Chớp thời cơ, chúng ta thêm vào : “Vâng, xe em chạy nhanh. Rất nhanh. Xe của cô cũng chạy nhanh. Nhanh như xe của em” . Lặp lại từ NHANH bốn lần như vậy, chúng ta tìm cách củng cố một khả năng của em đang thành hình. Những ý tưởng được trẻ em phát biểu còn rời rạc, không ăn khớp với nhau và không thích ứng với hoàn cảnh cụ thể đang diễn ra. Với phương thức nhấn mạnh, chúng ta làm cho các ý tưởng ấy ăn khớp với nhau và thích ứng với thực tại của trẻ em.

5.2- Với trẻ em loạn thị:

Khó khăn lớn lao, loại trẻ em nầy cần từ từ khắc phục, là liên kết, phối hợp những sự vật, hình ảnh và ý tưởng lại với nhau. Các em thường không biết đi tìm, chọn lựa những trò chơi ăn khớp với nhau, nếu những trò chơi nầy được chồng chất lộn xộn, trong một hộp hay một thùng duy nhất. Để giúp trẻ em  thuộc loại nầy biết xếp đặt, kết hợp, chúng ta dùng nhiều thùng có màu sắc khác nhau, mỗi thùng dành cho một yếu tố nhất định. Khi đi tìm những thành phần rời rạc, từ thùng nầy qua thùng nọ theo thứ tự, các em có thể kết ráp lại với nhau.

* Trước tiên, em đi tìm đầu con mèo, trong thùng ĐỎ,

* Thân con mèo trong thùng XANH,

* Đuôi trong thùng VÀNG,

* Bốn chân trong thùng TRẮNG.

Với cách làm nầy, các em tập hình dung cấu trúc toàn bộ, trước khi đi tìm từng thành phần.

5.3- Với trẻ em có những khó khăn vận động :

Vấn đề của loại trẻ em nầy là hiểu biết việc nào làm trước, việc nào cần đến sau, theo thứ tự thời gian.

Ví dụ một : Trẻ em làm rơi một cái bát bể nát tan tành. Chúng ta đặt câu hỏi : “Rầm, tan nát hết. Bây giờ em phải làm gì? Đưa tay lên trán suy nghĩ, tìm đi và nói cho cô biết” .

Ví dụ hai: Trẻ em làm rơi con búp-bê. « Búp-bê bị thương, chảy máu. Bây giờ em làm gì? ».

Ví dụ ba: Chúng ta cho trẻ em nghe những bản nhạc đơn sơ, quen thuộc. Sau khi kiểm chứng ý thích của từng em và trước khi mở máy, chúng ta hỏi : “Em muốn nghe bài nào ?”. Em nào biết nói hay phát ra một dấu hiệu, chúng ta cho nghe một đoạn nhỏ, rồi tắt máy, hỏi em khác: “Em thích nghe bài nào?”. Trẻ em chưa biết nói, có thể ngân lên vài nốt nhạc, hay là làm một cử điệu…

5.4- Dùng chỗ mạnh bù đắp vào chỗ yếu :

Khả năng giác quan thay đổi, tùy từng em. Chúng ta sử dụng giác quan mạnh để tác động, khi trẻ em gặp trắc trở, khó khăn, để mang lại cho các em lòng tự tin, ý thức về điểm mạnh của mình. Với những trẻ em rất nhạy bén về thính giác, cho phép các em nầy điều chỉnh âm thanh, theo thính lượng của mình. Lợi dụng ý thích về âm nhạc của một em, chúng ta yêu cầu em chấp nhận một công việc mà em thường từ chối, thuộc một lãnh vực khác. “Em thích nghe Tam Ca, cô cho em nghe. Nhưng vừa nghe, em vừa lắp ráp bức hình nầy” . Trong vấn đề ăn uống, chúng ta cũng dùng một kế hoạch tương tự: “Con thích ăn thịt, mẹ cho con một đĩa thịt . Nhưng trước khi ăn thịt, con ăn một nữa tô canh nầy” .

5.5- Với  trẻ em chậm phản ứng, sống riêng rẽ, khó tiếp xúc :

Để có phản ứng trước những kích thích từ ngoài, trẻ em loại nầy cần một ngưỡng sơ khởi lớn hơn, đối với trung bình của những trẻ em cùng lứa tuổi. Cho nên trong tác phong bên ngoài, chúng ta gia tăng cường độ, trong mọi loại kích thích, khi muốn tạo quan hệ tiếp xúc trao đổi với các trẻ em thuộc diện nầy :

“Ta đây là Ông Cọp. Ta đến phá nhà của bé nầy. Giọng gầm của ta rất dễ sợ. Đây hai hàm răng của Ông, bé có sợ không?” .

5.6- Với trẻ em hiếu động, lăng xăng, chập chờn, khó tập trung tư tưởng:

Loại trẻ em nầy múa máy tối ngày. Các em cần khung gian rộng rãi, thoáng thoát để vẫy vùng, chạy nhảy. Càng bị khép vào khuôn khổ chật hẹp, các em càng có phản ứng quấy rầy bạn bè chung quanh.

Với trẻ em thuộc diện nầy, chúng ta cần xử dụng hai phương tiện :

* Một khung gian rộng lớn cho phép các em tha hồ vận động. Đồng thời, đó cũng là một khung gian có lằn ranh và giới hạn rõ rệt, không thể vượt qua.

Trong khung gian nầy, một đàng các em có thể rời xa chúng ta bất cứ khi nào. Đồng thời, các em trở về khi nào các em ước muốn. Gần chúng ta, có những trò chơi, dụng cụ mà các em yêu chuộng. Dựa vào những sở thích nầy, chúng ta đưa ra những điều kiện làm việc và tìm cách kéo dài từ từ thời gian học tập của các em. Khi các em đi ra xa, người lớn có trách nhiệm vẫn an tâm lo cho các trẻ khác. Lòng họ không băn khoăn, xao xuyến. Họ không hồi hộp lo sợ các em sẽ bỏ đi và lạc mất.

* Sử dụng những phương tiện tâm vận động tại lớp học, vừa cho phép các em giải tỏa những nhu cầu bức thiết của mình, vừa biết chờ đợi và làm việc với bạn bè cùng lớp.

Nói tóm lại, chúng ta kết hợp hai mục tiêu lại với nhau : Thỏa mãn nhu cầu vận động cá biệt và tìm cách xã hội hóa tác phong của các em như biết nhìn, biết chờ đợi, biết lưu tâm đến bạn bè.

Thêm vào đó, trong khuôn khổ của địa hạt tâm vận động, chúng ta tổ chức cho trẻ em, những loại trò chơi giả bộ như :

* Đi xe lửa, ngưng lại ở mỗi nhà ga,

* Bay lên cung trăng và đi qua nhiều đám mây,

* Một hạt lúa gieo xuống đất, từ từ lớn lên thành cây lúa, theo tiếng nhạc kèm theo.

* Chúng ta dùng nhiều hình tượng, với nhiều dụng cụ khác nhau. Ví dụ, chạy với con búp-bê:

-Tiếng còi thứ nhất : dừng lại hôn con búp-bê,

-Tiếng còi thứ hai : cho búp-bê ăn,

-Tiếng còi thứ ba : cho búp-bê ngủ.

5.7-Với trẻ em nhạy cảm, nhưng sợ tiếp xúc, sống co rút lại:

* Dùng trò chơi giả bộ để tiếp xúc : dùng con gấu, con voi để nói chuyện với loại trẻ em nầy.

* Dùng kỹ thuật chận đường, từ chối, tạo mâu thuẩn, để gây phản ứng.

5.8- Với trẻ em nhạy cảm, nhưng dễ bùng nổ, tràn ngập :

* Sử dụng trò chơi dịu hiền : làm mẹ, săn sóc con búp-bê…

* Sử dụng vũ điệu với âm nhạc nhẹ nhàng, thoải mái, thư giản…

* Lưu tâm, có mặt và khuyến khích,

* Đề phòng những ngưỡng chịu đựng, bằng cách gây ý thức, học tập biết dừng lại, trước lúc đạt cao điểm tạo nên tình trạng bực bội và khổ đau.

Theo Tác giả : Nguyễn Văn Thành – Trình bày : Phan Đức Thông – Phạm Hồng Lam Ấn loát : Monastère Notre Dame de Fatima Orsonnens – Fribourg – Suisse ISBN : 2-9700230-5-9 Lausanne – Thụy Sĩ, Hè 2004

Dạy trẻ chậm phát triển diễn tả các trạng thái tình cảm

Share this:
Share this page via Email Share this page via Stumble Upon Share this page via Digg this Share this page via Facebook Share this page via Twitter
Print Friendly, PDF & Email

Leave a Reply