Bệnh về Mũi

1. Chứng viêm mũi 

Các thuốc gây co mạch có thể chữa triệu chứng ngạt do viêm mũi. Tuy nhiên, việc lạm dụng nó có thể tạo ra hiện tượng viêm mũi do thuốc và lệ thuộc vào thuốc.

Mũi là bộ phận cửa ngõ của đường hô hấp, nơi tiếp nhận, lọc sạch, sưởi ấm, làm ẩm không khí. Mũi giúp con người cảm nhận được mùi vị. Khoang mũi có cấu tạo rất phức tạp để đảm nhận các chức năng ngửi, thở và phát âm. Tầng trên của mũi làm nhiệm vụ cảm nhận mùi, nơi tập trung đầu mút của dây thần kinh khứu giác. Việc chức năng này bị chèn ép hoặc tổn thương sẽ ảnh hưởng lớn tới sự cảm nhận mùi và gián tiếp gây giảm chức năng sinh lý.

Tầng dưới mũi tham gia quá trình hô hấp, dẫn luồng không khí từ ngoài qua mũi tới họng rồi vào phổi. Tầng này chịu ảnh hưởng của cuốn mũi dưới. Khi viêm, cuốn mũi có thể nở to ra, chèn ép toàn bộ khe thở, gây hiện tượng ngạt tắc mũi. Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách, cuốn mũi có thể bị giãn nở to liên tục, không còn co lại khi dùng thuốc co mạch (loại thuốc chống ngạt mũi). Do vậy, những thuốc co mạch này phải được dùng dưới sự theo dõi chặt chẽ của các bác sĩ tai mũi họng, tránh dùng quá lâu gây ra hiện tượng viêm mũi do thuốc hoặc lệ thuộc vào thuốc. Trong trường hợp đó, phải xử lý bằng ngoại khoa mới có kết quả, chẳng hạn như đốt cuốn mũi dưới bằng điện hoặc bằng laser, cắt bỏ cuốn dưới một phần hoặc toàn bộ.

7

2. Lạm dụng thuốc nhỏ mũi làm ngạt mũi nặng hơn

Để giảm bớt sự khó chịu do chứng ngạt mũi đem lại, nhiều bệnh nhân nhỏ thuốc naphazolin và thấy đỡ hẳn. Từ đó, hễ bị ngạt là họ nhỏ thuốc thường xuyên, lâu dần gây nhờn hoặc lệ thuốc thuốc. Nếu không nhỏ, mũi càng ngạt hơn trước.

Naphazolin là một loại thuốc co mạch mạnh có tác dụng tại chỗ. Khi mũi tắc, chỉ cần nhỏ thuốc là mũi thông ngay. Điều này dễ gây lạm dụng thuốc mỗi khi bị cảm cúm nhẹ gây ngạt mũi. Nếu nhỏ một vài lần và cách xa nhau thì vô hại nhưng nếu dùng lâu, niêm mạc mũi do thiếu sự tưới máu cần thiết sẽ trở nên bị phù nề, các cuốn mũi bị quá phát, gây nghẹt mũi.

Naphazolin mỗi khi tiếp xúc với niêm mạc mũi sẽ lập tức gây co mạch mạnh, làm mũi thông thoáng, nhưng tiếp đó lại có hiện tượng “dồn máu trở lại” làm tắc mũi, đòi hỏi phải nhỏ tiếp. Mặt khác, niêm mạc mũi sau nhiều lần nhỏ thuốc sẽ bị phù nề, trở thành kém nhạy cảm đối với thuốc nên đòi hỏi phải nhỏ nhiều thêm, gây ra cái vòng luẩn quẩn khiến người bệnh không rời bỏ được thuốc và ngày càng phải tăng thêm số lần cũng như lượng thuốc nhỏ.

Muốn điều trị có kết quả, bệnh nhân phải ngừng ngay hoặc từng bước ngừng việc nhỏ mũi bằng naphazolin. Để đối phó với triệu chứng nghẹt mũi, bạn có thể châm hoặc day huyệt nghinh hương ở hai bên cánh mũi (có tác dụng làm đỡ nghẹt). Ở tư thế nằm, mũi dễ tắc hơn do máu dễ dồn lên đầu. Vì thế buổi tối trước khi đi ngủ, bạn nên hoạt động thể dục hoặc đi bộ để máu được phân bố điều hòa cho các bộ phận, sẽ dễ ngủ hơn.

Ngoài ra, bạn nên đến khám bệnh ở một cơ sở chuyên khoa tai mũi họng có trang bị tốt để được chẩn đoán chính xác. Nếu đúng là viêm mũi mạn tính với cuốn mũi phình to do quá phát niêm mạc, thầy thuốc chuyên khoa có thể giúp bạn dễ thở hơn bằng các kỹ thuật giản đơn (như bẻ cuốn mũi, đốt cuốn mũi bằng điện hoặc laser) trước khi phẫu thuật cắt bỏ phần quá phát của cuốn mũi (nếu cần thiết).

7

3. Ngạt mũi và cách chữa trị

Thông thường, chúng ta rất chủ quan với hiện tượng ngạt mũi và dễ bỏ qua. Nhưng theo các chuyên gia tai mũi họng, đây là một dấu hiệu cần được quan tâm theo dõi vì có thể là triệu chứng của các bệnh lý nguy hiểm như khối u, dị vật…

Hiện tượng ngạt mũi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, là cấp tính hoặc mạn tính. Bình thường, chúng ta thở đường mũi một cách chậm rãi, đều đặn, không có tiếng kêu và miệng thì ngậm lại; khi bịt một bên mũi, ta vẫn thở được dễ dàng. Khi ngạt mũi, ta thở khó khăn và có tiếng kêu; nếu bịt một bên mũi, ta sẽ ngạt và phải thở bằng miệng. Người bị ngạt mũi ban đêm hay ngáy và sáng dậy họng bị khô, có cảm giác vướng họng, thường xuyên phải đằng hắng. Khi thở bằng miệng, không khí đi vào không được lọc sạch và sưởi ấm nên dễ gây viêm họng, viêm thanh quản, phế quản… Bệnh nhân không phát âm được những chữ m, n và nói giọng mũi kín.

Một số trường hợp tắc mũi gây ù tai, nghe kém do viêm phù nề và mủ đọng (làm tắc đường thông thương giữa mũi và tai). Viêm nhiễm ở mũi lâu dài có thể lan lên mắt, gây viêm túi lệ, viêm màng tiếp hợp, viêm mí mắt (thông qua ống dẫn mắt mũi). Tình trạng ngạt tắc mũi thường xuyên ảnh hưởng xấu đến khuôn mặt như gây hẹp hàm ếch, răng vẩu, cằm nhô, lồng ngực xẹp… Bệnh nhân ngạt mũi thường xuyên thường bị thiếu không khí nên không được linh hoạt, hay chậm chạp, lười biếng, nhức đầu và khó tập trung tư tưởng.

Có thể đánh giá mức độ ngạt mũi bằng cách bịt từng bên mũi, để lưng bàn tay vào sát lỗ mũi bên kia để nghe luồng khí đi qua. Cũng có thể hoặc đặt một gương nhỏ trước cửa mũi rồi thử từng bên xem có mờ gương hay không.

Ngạt mũi có rất nhiều nguyên nhân:

– Dị tật bẩm sinh: Thường gặp ở trẻ mới đẻ do cửa mũi phía sau bị bịt bởi một lớp màng hoặc mảnh xương. Trẻ thường khó thở do phản xạ thở bằng mồm chưa hoàn thiện. Nếu không được xử trí kịp thời, trẻ có thể tử vong.

– Viêm nhiễm: Viêm mũi họng ở trẻ em, viêm mũi xoang…

– Khối u: Lành tính hoặc ác tính.

– Chấn thương hoặc có dị vật trong mũi: Thường do trẻ em tự nhét vào mũi các hạt lạc, sáp màu…

– Rối loạn cảm giác ở mũi: Đường thở thông nhưng bệnh nhân vẫn kêu ngạt mũi, thường xảy ra ở những người mất cảm giác tại mũi.

– Rối loạn nội tiết: Hay xảy ra ở những phụ nữ có thai.

Với những trường hợp ngạt mũi do viêm nhiễm cấp tính, có thể dùng một số lá xông chứa tinh dầu hoặc thuốc có tinh dầu để xông mũi trong 5-10 phút. Không nên dùng thuốc quá nóng hoặc nhỏ quá nhiều vì hơi thuốc sẽ bốc lên mạnh, rất khó chịu. Không dùng cách này cho trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi.

Nếu nhỏ thuốc co mạch, không được dùng quá 10 ngày vì dễ gây viêm mũi do thuốc – một loại bệnh rất khó điều trị. Tốt nhất là nên đến thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng để có phương pháp điều trị đúng đắn ngay từ đầu.

7

4. Viêm mũi xoang dị ứng

Bệnh dị ứng, trong đó có viêm mũi xoang, là một trong những bệnh gây tốn kém nhất cả về thời gian, chi phí điều trị lẫn hiệu suất lao động. Tỷ lệ mắc bệnh này tăng nhanh do môi trường ngày càng ô nhiễm.

Viêm mũi xoang dị ứng xuất hiện khi tiếp xúc với các dị nguyên như bụi nhà, thực phẩm (trứng, sữa, các loại hải sản…), thuốc, phấn hoa, sự thay đổi các yếu tố của môi trường (độ ẩm, nhiệt độ), tinh thần căng thẳng, nội tiết tố, vi khuẩn, virus… Bệnh biểu hiện bằng 2 hình thái: viêm mũi dị ứng theo mùa hoặc viêm mũi dị ứng quanh năm.

Người bị viêm mũi dị ứng rất nhạy bén với các biến đổi trong mũi. Họ cảm thấy ngứa ngáy, buồn buồn trong mũi rồi hắt hơi hàng tràng, sau đó chảy nước mũi trong như nước mưa và bắt đầu ngạt tắc mũi. Bệnh nhân có cảm giác khó thở, nói giọng mũi và suy giảm khứu giác, có khi mất khứu giác.

Việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào tiền sử dị ứng của bệnh nhân cũng như gia đình họ. Ngoài ra, cần làm một số xét nghiệm như tìm tế bào ái toan trong dịch mũi, test thăm dò vùng ngoài ra như test lẩy da, test nội bì…

Về điều trị, chủ yếu là dự phòng bằng cách thay đổi môi trường sống nếu tìm được yếu tố dị nguyên (phương pháp này thường khó thực hiện), giữ nhà cửa luôn thoáng mát, sạch sẽ. Nâng cao sức đề kháng tự nhiên của cơ thể bằng các yếu tố vi khoáng chất, khí hậu liệu pháp, tắm suối nước nóng, châm cứu, tập thể dục thường xuyên… Có thể điều trị triệu chứng bằng thuốc kháng histamin, corticoid toàn thân và tại chỗ…

Hiện đã có phương pháp điều trị đặc hiệu, đó là giải mẫn cảm. Bệnh nhân được đưa dị nguyên vào cơ thể với liều nhỏ và tăng dần để tạo kháng thể bao vây, thay đổi cách đáp ứng của cơ thể với dị nguyên và vì thế làm mất triệu chứng dị ứng. Thời gian điều trị thường kéo dài từ 6 tháng đến 5 năm.

getty_rf_baby_saline_nose_drops

5. Xì mũi thế nào cho đúng?

Xì mũi là phản ứng tự nhiên của cơ thể để tống các chất ứ đọng, giúp lấy lại sự thông thoáng. Động tác này tuy đơn giản nhưng đa phần các cháu nhỏ dưới 5 tuổi không biết cách thực hiện. Xì mũi không đúng cách rất nguy hiểm vì có thể khiến trẻ bị viêm xoang, viêm khí phế quản.

Mũi luôn tiết ra dịch. Chất nhày từ các xoang chảy tới mũi cũng chứa dịch. Khi bị kích thích bởi một số yếu tố (lạnh – ẩm, hơi khí, bụi…), mũi và xoang sẽ tiết ra nhiều dịch hơn và dịch này cũng đặc hơn, gây ứ đọng trong mũi. Lúc này, trẻ thường không biết xịt ra mà lại hít mạnh vào. Kết quả là các chất này sẽ từ mũi đi xuống họng hoặc đi ngược vào xoang, gây viêm xoang.

Khi bảo xì, trẻ thường bịt cả 2 lỗ mũi để xì. Như vậy, các chất ứ đọng cũng đi ngược vào trong xoang hay xuống họng, gây viêm họng, viêm khí phế quản.

Cha mẹ và các cô giáo cần hướng dẫn cho trẻ từ 3-4 tuổi trở lên cách xì mũi đúng:

– Chỉ bịt một lỗ mũi, một bên để thoáng.

– Hơi cúi đầu, ngậm mồm, thở mạnh ra.

– Đổi bên và làm lại như vậy, mỗi bên làm 2-3 lần cho sạch.

Khi trẻ bị ngạt hoặc tắc mũi, phải nhỏ thuốc co mạch trước, 1-2 phút sau mới thực hiện xì mũi. Nếu không sẽ gây phản tác dụng như đã nêu. Ngoài ra, xì mũi quá mạnh còn có thể gây chảy máu mũi.

Khi trẻ bị bệnh lây lan như sởi, cúm… nên cho trẻ xì mũi ra khăn giấy dùng một lần. Đặt khăn ở trước lỗ mũi để ngăn các chất xì bắn tung tóe, làm bệnh lan truyền.

Nguồn: ykhoa.net

Share this:
Share this page via Email Share this page via Stumble Upon Share this page via Digg this Share this page via Facebook Share this page via Twitter
Print Friendly, PDF & Email

Leave a Reply