230 Lời giải về bệnh tật trẻ em : Phần 6-Những vấn đề liên quan tới tay, chân, xương

5MonthsSmile

76. GẶM MÓNG TAY

Thói quen cắn móng tay thường thấy ở lứa tuổi trẻ em đã tới trường. Không phải chỉ có các cháu có tính nhút nhát, suy tư mới hay cắn móng tay. Cả các em khỏe mạnh, tính nết vui vẻ cởi mở cũng có thói quen như vậy.

Không nên la mắng các cháu và nên tìm cách xóa bỏ hiện tượng này bằng phương pháp tâm lý như chú ý xem cháu hay cắn móng tay lúc nào? Trước khi đi ngủ, khi chơi một mình ở nhà, hay ở trường? Hãy hỏi các cháu xem các cháu có khó ngủ không? Cháu có điều gì không được vừa ý ở trường không? Cháu sợ hay yêu mến các bạn, cô giáo?

Nếu bạn không quan tâm nhiều về hiện tượng này thì một thời gian sau, con bạn cũng sẽ tự động bỏ thói quen đó đi. Nhưng nếu bạn tìm được nguyên nhân tạo ra thói quen này của cháu, bạn có thể giúp đỡ cháu sớm giải quyết được một số vấn đề về tâm lý khiến tâm hồn cháu được thoải mái và vui vẻ hơn trong cuộc sống với mọi người.

77. VẾT ĐÂM DO: KẸP, KIM, GAI HỒNG, GAI XƯƠNG RỒNG

Rửa sạch bằng thuốc sát trùng. Nếu trong ngón tay có mắc lại gai hãy lấy nhíp gắp ra hoặc lể ra bằng một cái kim khâu đã hơ qua lửa để sát trùng. Sau đó, nặn cho máu chảy ra rồi rửa bằng nước sát trùng một lần nữa.

Theo dõi vết thương trong những ngày sau. Nếu bị sưng tấy đỏ và đau thì cần khám bác sĩ.

78. BỊ KẸP NGÓN TAY

Xương ngón tay của Bé còn rất yếu ớt, nên khi an ủi cháu bé bị kẹp ngón tay phải chú ý thêm chỗ bị kẹp có gờ lên một cách bất thường không? Thường thì chỗ đó chỉ bị tím và sưng phồng.

Nếu bị gồ hay có đoạn ngón tay bị lệch, phải nghĩ tới các trường hợp giập xương hoặc trật khớp ngón, cần phải đưa ngay tới bác sĩ.

79. ĐỨT TAY, CHÂN

Nếu vết đứt không sâu: Rửa vết thương bằng xà phòng và nước sạch. Dùng gạc (tránh dùng bông) để rửa sạch đất, cát rồi bôi thuốc sát trùng và băng lại.

Dù đã buộc băng kỹ, cũng không để cháu bé chơi dưới đất hay trên cát vì đất cát có thể lọt qua băng vào vết thương.

Thay băng mỗi ngày. Một vết thương khi khỏi sẽ khô, sạch và không còn đau nữa. Nếu vết thương đỏ, sưng tấy, có mủ cần đưa đi bác sĩ.

Đứt ngón tay: Khi buộc băng ở ngón tay, không được buộc chặt quá. Cần phải để máu lưu thông trong ngón tay và có không khí trên vết thương.

Tránh những vết sẹo kém thẩm mỹ: Những vết thương sâu trên bàn tay, cánh tay, ở mặt, ở đùi sau khi khỏi có thể để lại những vết sẹo không đẹp mắt. Bởi vậy, nên tới các bác sĩ để khâu vết thương ngay từ đầu. Không nên để vết thương tự khỏi.

Vết thương chảy nhiều máu: Coi mục xuất huyết (hemorragie).

80. GÃY XƯƠNG, BONG GÂN VÀ TRẬT KHỚP

Khi bị ngã, bị va chạm mạnh hoặc bị đánh, có thể xảy ra 3 trường hợp: xương bị gãy hoặc những sợi gân ở các khớp xương bị căng ra bất chợt và bị tổn thương; hoặc các khớp xương bị trật ra khỏi vị trí bình thường của chúng.

Dù cháu bị gãy xương, bong gân hay trật khớp thì cách săn sóc cháu cũng có những điểm giống nhau như sau:

– Người săn sóc cháu phải bình tĩnh để khỏi làm cháu thêm lo sợ.

– Tránh không nên xê dịch cháu, trừ trường hợp bắt buộc như cháu bị ngã ở giữa đường.

– Hỏi cháu xem cháu đau ở đâu: chỉ quan sát thôi, không nên sờ vào chỗ đau.

– Nếu có điều kiện, cố định chỗ đau và nhờ người báo cho bác sĩ hoặc cơ quan y tế, cho cơ quan công an gần nhất.

I. Trường hợp bị gãy xương: ở đùi, chân, mắt cá chân

Cháu bé bị ngã khi chạy hoặc bị xe đụng mạnh, cháu cảm thấy đau chân và không đứng lên được. Quan sát chỗ Bé kêu đau, dưới lớp quần áo chúng ta cũng có thể thấy chỗ đó gồ lên. Để xác định rõ xem có phải Bé bị gẫy xương hay không, chúng ta có thể tháo chỉ hoặc cắt quần áo của Bé để coi cho rõ. Sở dĩ chúng ta không cởi quần áo Bé như lúc bình thường vì cần phải tránh: Không được đụng chạm hoặc nâng chỗ đau lên.

Nếu Bé chịu nằm yên, có thể dùng gối, chăn để chèn hoặc độn dưới chỗ đau cho cháu.

Nếu cháu không chịu nằm yên, hay cựa quậy hoặc cần phải di chuyển cháu, cần cố định chỗ đau vào 1 hoặc 2 cái nẹp (có thể dùng bất cứ một vặt gì dài, bằng gỗ hoặc chất liệu khác như cái cán chổi, một tấm ván nhỏ v.v…).

Gãy xương đòn gánh, vai, cánh tay, cẳng tay, bàn tay Nếu khi ngã, cháu bé đỡ bằng tay, khuỷu tay hoặc trong khi chơi đùa, cháu bi vặn chéo cánh tay, đều có thể đưa tới những trường hợp gãy xương ở vùng vai, cánh tay hoặc bàn tay. Khi bị đau, cháu bé sẽ tự đỡ lấy cánh tay bị thương ở một vị trí thích hợp nhất để đỡ đau. Chúng ta nên giúp cháu bằng cách buộc một khăn đeo quanh cổ để đỡ lấy cánh tay trong trường hợp cháu bị thương ở cánh tay, cổ tay hay ngón tay.

Không được thử cho tay bé cử động hoặc nâng chỗ gãy lên Nếu phần xương gãy chọc thủng da, hãy cắt bỏ phần quần áo đụng tới xương, đắp lên chỗ đó một miếng gạc mềm và dùng băng dính (băng keo) nhẹ nhàng dán lại.

II. Trường hợp bị thương ở đầu, ở lưng

Khi cháu bị ngã từ trên ghế xuống đất hoặc ngồi ở ghế trước (dù ngồi trên đùi người lớn) khi xe ô tô ngừng đột ngột hoặc bị tai nạn, nên bị văng đập vào khung xe hoặc phần kính chắn phía trước.

Ba trường hợp có thể xảy ra :

* Cháu bé vẫn tỉnh, có thể trả lời người hỏi chuyện: không được xoay người cháu, giữ cho đầu cháu bé thẳng với chiều của thân người. Không được để đầu cúi xuống hoặc quay sang một bên: cháu có thể bị chấn thương sọ não hoặc cột sống.

* Cháu bé bị ngất, nhưng vẫn còn thở: có thể đã bị vỡ sọ não (nhất là có một ít máu chảy ra mũi hoặc lỗ tai). Đặt cháu nằm nghiêng trên gối đầu hơi thấp hơn phía chân. Dùng nệm độn cho đầu không động đậy.

* Cháu bé bị ngất, không còn thở nữa: Phải làm hô hấp nhân tạo ngay và đưa đi cấp cứu.

Nếu cần chuyển dịch cháu, một người giữ đầu cho thẳng, một người kéo chân nhè nhẹ. Ngoài phần sọ, cháu còn có thể bị thương ở sườn, ở hàm v.v… nữa.

81. HÔNG DỄ TRẬT KHỚP

Ở một số gia đình, thường thấy có tình trạng bị trật khớp háng bẩm sinh, nhất là ở các cháu gái. Nguyên nhân có thể là do khi đẻ, thai ra trong tư thế ngược, mông ra trước.

Khi mới sinh, phần đầu xương đùi của các cháu chưa được hình thành đầy đủ. Trong năm đầu tiên, phần xương này mới dần dần hoàn chỉnh và khớp với xương chậu. Chỗ khớp này có thể phẳng quá hoặc nghiêng quá làm cho xương đùi nhô ra ngoài tạo thành dáng dị dạng ở một bên hay cả hai bên hông.

Muốn tránh hiện tượng này, người ta phải chữa cho Bé từ khi mới sinh bằng cách độn một vật giữa 2 chân để cháu bé phải nằm dạng chân, hoặc mặc cho cháu một loại quần đặc biệt gọi là “quần Pawlick”. Thời gian chữa như vậy tùy thuộc vào cấu tạo đầu xương của từng cháu.

Tình trạng khớp xương hông của Bé gái có thể bị dị dạng phải được phát hiện sớm khi cháu bé chưa quá 4 tháng tuổi bằng phương pháp siêu âm.

Nếu không được chữa ngay từ đầu, trạng thái trật khớp xương hông sẽ làm các cháu đi đứng khó khăn. Khi các khớp xương đã hoàn chỉnh, muốn chữa sẽ mất nhiều thời gian và nhiều trường hợp phải phẫu thuật.

82. VIÊM KHỚP CẤP

Bệnh viêm khớp cấp có thể do vi trùng hoặc virút. Nhiều chứng bệnh kèm theo hiện tượng đau khớp như bệnh cúm chẳng hạn.

Dạng viêm khớp nặng nhất do vi trùng gáy ra, làm cho các chỗ khớp có mủ, có khi tác dụng tới cả xương.

Viêm khớp nhẹ thường ở đầu gối, khuỷu tay. Các chỗ viêm bị tấy đỏ, sờ vào thấy nóng và đau, mỗi khi cử động cũng thấy đau.

Bởi vậy, các cháu bị bệnh, thường cứng chân, cứng tay. Không phải là các cháu bị liệt mà chỉ vì các cháu không muốn cử động. Trường hợp viêm sâu, như ở khớp háng chẳng hạn, rất khó xác định bệnh.

Cần cho các cháu nằm viện để bác sĩ theo dõi và làm các xét nghiệm: soi X-quang, hút mủ ra để xét nghiệm và điều trị một thời gian dài bằng thuốc kháng sinh.

83. ĐI KHẬP KHIỄNG (CÀ NHẮC)

Sau khi bị ngã, hoặc va chạm mạnh cháu bé bị đi khập khiễng.

Nếu sau 1 – 2 hôm cháu vẫn không khỏi thì cần đưa cháu đi khám bệnh vì có thể cháu đã bị thương tổn phần xương hoặc khớp háng, đầu gối hay chân.

Để xác định đúng bệnh, bác sĩ phải chiếu X-quang để kiểm tra các xương háng và xương chân.

84. CHÂN VÒNG KIỀNG

Nếu chân các cháu bé, trong vòng 6 tháng đầu, bị cong cũng không có gì đáng lo ngại. Vì ở thế nằm trong tử cung, chân cháu phải như thế mới vừa hợp với “khuôn”. Sau khi ra đời đôi chân cháu sẽ thẳng dần, nhất là trong thời gian cháu tập đi.

Tuổi tập đi: Bệnh còi xương là một trong những nguyên nhân của hiện tượng chân vòng kiềng. Tuy vậy, còn một số nguyên nhân khác như: các cháu mập mạp quá nặng đối với đôi chân hoặc cho cháu tập đi sớm quá. Có thể phân biệt 2 trường hợp sau:

– Xương chân cong vì bệnh còi xương (thiếu canxi và vitamin D) thì điểm cong nhất nằm ở dưới, về phía cẳng chân.

– Xương tạm cong lúc sơ sinh làm chân cong ở đoạn đầu gối.

Bởi vì xương chỉ “tạm cong” nên không cần cho các cháu đi giầy có đế đặc biệt. Nên tránh, không để các cháu đi lâu.

Chỉ có trường hợp chân cong một cách bất thường mới cần tới bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình để chữa trị.

85. DỊ TẬT CHÂN BẨM SINH – CHÂN VẸO

Nếu được phát hiện sớm, trong những ngày đầu sau khi sinh, thì phần lớn các trường hợp dị tật chân đều có thể chữa trị được.

Dị tật chân là do ảnh hưởng của thế nằm không đúng của thai nhi trong tử cung mẹ, mà hiện nay người ta chưa biết vì lý do gì.

Dị tật hay thấy nhất là phần trên của bàn chân quặt vào trong.

Những dị tật khác như: bàn chân vẹo vào trong, vẹo ra ngoài, vẹo gót cũng không đáng lo lắm nếu các khớp vẫn mềm mại cử động được.

Chỉ khó chữa trị nếu những chỗ dị tật bị cứng, có hiện tượng co cơ hoặc trật khớp.

Tuy vậy, với cách chữa trị hiện đại, người ta có thể chữa được đa số trường hợp, chỉ phải mất công chữa trị và theo dõi hàng ngày, trong thời gian dài có khi tới 1 – 2 năm liền.

86. CHÂN QUẶT VÀO TRONG, HAY QUẸO RA NGOÀI

Khi đứa bé mới bắt đầu tập đi, đôi bàn chân có xu hướng quay vào phía trong. Như vậy là bình thường, ít cháu có bàn chân hướng ra phía ngoài ngay.

Người lớn chỉ cần chú ý nếu nguyên nhân của hiện tượng trên là do các khớp ở đầu gối hay ở khớp xương hông gây nên. Nếu vậy, phải nói với bác sĩ.

Không bao giờ được vội vàng tự ý cho các cháu đi những đôi giầy đặc biệt để điều chỉnh dáng đi hoặc chỉnh hình xương mà không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

87. BÀN CHÂN BẸT

Nhiều bố mẹ lo con mình có bàn chân bẹt: khi các cháu đứng, nhất là khi các cháu bụ bẫm toàn bộ gan bàn chân đều tiếp xúc với đất không thấy phần hõm ở giữa gan bàn chân, tuy rằng lúc nằm, vẫn nhìn thấy bàn chân của cháu có chỗ hõm bình thường.

Thật ra, tới lúc các cháu hơi lớn, phần lõm này mới rõ. Bởi vậy không nên lo quá sớm, và không được cho các cháu dùng những loại giầy gì đặc biệt, nếu không có ý kiến của bác sĩ.

Hãy cho các cháu tập đi chân đất để các bắp thịt bàn chân được làm việc. Đôi bàn chân sẽ quen với động tác bám vào đất và vào những địa hình mấp mô khác nhau.

Hãy bày ra các trò chơi luyện tập như lấy một vật, chẳng hạn cái bút chì, ở dưới đất bằng ngón chân cái và ngón thứ 2. Tập cho các cháu đi kiễng chân. Khi các cháu đã lớn, tập cho các cháu nhảy dây, múa nhịp điệu. Đạp xe đạp 3 bánh cũng là phương pháp tập luyện để các khớp xương chân và đoạn xương dài của cẳng chân hoạt động.

88. ĐẦU GỐI ĐỤNG NHAU

Khi đứng, nhìn thấy rõ chân cháu bé cong, hai đầu gối chạm vào nhau. Hiện tượng này thường kèm theo đôi bàn chân bẹt, đều tại các cơ bắp và gân chứ không phải tại xương. Bởi vậy đây không phải là một tật cho tới lớn, mà chỉ từ 2 tới 5 tuổi, là cháu bé sẽ có đôi chân thẳng bình thường. Nếu sức khỏe cháu bé tốt thì người lớn không có gì đáng lo ngại: sở dĩ tạm thời cháu có đôi chân như vậy là vì trọng lượng lúc này của phần thân cháu hơi nặng đối với đôi chân mà thôi.

Người lớn chỉ cần chú ý không để cháu bé đi những quãng đường xa. Hãy mua cho cháu một chiếc xe đạp 3 bánh, cho cháu tập đạp để đôi chân khỏe và cứng cáp hơn, có thể mang được dễ dàng tấm thân của cháu.

Để theo dõi được sự chuyển biến của đôi chân theo thời gian, bạn hãy để cháu đứng thẳng và đo khoảng cách giữa hai mắt cá chân, 3 tháng một lần. Bạn sẽ thấy số đo càng ngày càng ngắn lại.

Tuy vậy, nếu khi 2 đầu gối đụng vào nhau mà khoảng cách giữa 2 chân từ 8 tới 10 cm thì cũng nên trao đổi ý kiến với bác sĩ chuyên về khoa chỉnh hình trẻ em.

89. BỆNH CÒI XƯƠNG

Nguyên nhân của bệnh còi xương là do thiếu vitamin D. Ánh sáng mặt trời có vai trò quan trọng trong việc chế tạo vitamin D cho cơ thể, loại vitamin rất cần thiết cho việc hấp thụ chất Can-xi. Trẻ thiếu Can-xi là thiếu nguyên liệu chính cho việc chế tạo các tế bào xương. ở châu Âu, các trẻ sinh vào mùa thu hay bị còi xương vì 6 tháng đầu không có ánh nắng mặt trời. Chúng ta nên nhớ rằng, kính ngăn cản không cho các tia cực tím của mặt trời đi qua. Bởi vậy, nếu cho trẻ nằm sau cửa kính để tắm nắng thì cũng bằng không.

Trẻ em bị bệnh còi xương, tùy theo lứa tuổi mà có các triệu chứng như sau: xương sọ mềm, xương cổ tay, cổ chân to, bẹt; thóp lâu không đóng lại; chậm biết ngồi, biết đi; chậm mọc răng; hay bị chân vòng kiềng, méo cột sống, xương lồng ngực và xương hông.

Thành phần máu của cháu bé có lượng Can-xi dưới mức bình thường có thể dẫn tới chứng co giật.

Để đề phòng chứng còi xương, bác sĩ thường cho các cháu uống thuốc có từ 1000 – 1500đơn vị vitamin D mỗi ngày liền trong hai năm đầu. Các cháu bú sữa mẹ cũng cần phải uống thêm vitamin D.

Các cháu có mầu da sẫm dễ bị còi xương hơn các cháu khác vì các chất mầu ở da có tác dụng cản các tia tử ngoại của mặt trời. Bởi vậy, các cháu này càng cần phải được chú ý săn sóc nhiều hơn

90. VẸO XƯƠNG SỐNG

Xương sống có thể bị vẹo với những kiểu dáng khác nhau làm cho lưng cong ở phần trên, ở phần dưới hoặc vẹo theo chiều ngang.

Những dáng bất thường như vậy có thể phối hợp với nhau như vừa bị cong vừa bị vẹo.

Với các trẻ em sơ sinh: Lưng trẻ sơ sinh, trong mấy tháng đầu, thường cong. Trẻ càng lớn, lưng càng thẳng hơn cho tới khi đến tuổi biết ngồi.

Bởi vậy, ở thời gian xương sống còn yếu. Khi để Bé ở tư thế ngồi phải có gối hoặc vật gì dùng để tựa lưng vì ở độ tuổi này cột xương sống của Bé rất dễ bị xiêu vẹo.

Với các trẻ lớn hơn: Trẻ em từ độ tuổi biết đi cho tới năm lên 2, lên 3 hay ưỡn cột sống lưng ra phía trước. Dáng đi này sẽ mất dần khi các cháu lớn lên.

Ở độ tuổi này, nếu thấy các cháu bị lệch vai: khi đứng thẳng vai này thấp hơn vai kia thì nguyên nhân là do cột xương sống không thẳng, cong về bên phải hay bên trái hoặc có thể đã bị gù ở một bên nào đó.

Nếu khi cho các cháu hơi cúi người về đằng trước mà các khuyết tập trên không còn nữa thì chứng vẹo xương trên chỉ là do phải bổ sung sự cao thấp không bằng nhau tạm thời của hai chi dưới: các trường hợp này phần lớn có thể chữa trị bằng phương pháp tập các động tác thể dục chọn lọc, hoặc chơi thể thao.

Nhiều chứng vẹo cột sống có nguyên nhân từ các bệnh của hệ thần kinh hoặc của các cơ bắp. Nhưng nhiều khi cả những trẻ khỏe mạnh cũng bị – nhất là các cháu bé gái – mà không tìm thấy nguyên nhân rõ rệt.

Nói chung, hiện tượng vẹo cột sống của các cháu, cần được chú ý theo dõi cẩn thận để xem nó tiến triển ra sao. Chứng vẹo cột sống đã ở thế ổn định hay có xu thế tiến triển nặng hơn. Bởi vậy, cần phải cho các cháu tới các bệnh viện chuyên khoa xương mỗi năm 2 lần hay 1 lần, chụp X-quang xương, và so sánh các hình chụp để nhận định xương các cháu phát triển thế nào.

Sự phát triển không bình thường của cột sống có mức độ nhẹ ở trẻ em, có thể không nhận thấy trong những năm đầu. Hiện tượng này cần phải được đặc biệt chú ý khi các cháu tới độ tuổi từ 11 tới 15, là giai đoạn dậy thì cơ thể phát triển nhiều, nhất là đối với các cháu gái.

91. TẬT NỨT ĐỐT SỐNG

Tật nứt đốt sống là một dị tật bẩm sinh của đốt sống. Khi đứa trẻ đã tới ngày ra đời mà đốt sống vẫn chưa hình thành được hoàn hảo, còn bị hở phía sau khiến cho các cấu trúc thần kinh của tủy sống có thể lọt ra ngoài được. Hiện tượng này thường xảy ra ở đoạn cuối sống lưng, vùng thắt lưng và xương cùng, ít khi ở đoạn lưng trên hoặc vùng cổ.

Nếu chỉ có hiện tượng hở xương thôi thì có khi chẳng hệ trọng gì. Có khi chỉ có phần màng bọc tủy sống lọt được ra ngoài, làm thành một khối nằm dưới da gọi là “thoát vị màng não. Nhưng nghiêm trọng nhất là trường hợp cả tủy sống và các rễ dây thần kinh cũng bị thoát vị ra ngoài rồi bị viêm, gây liệt chân, không tự chủ được việc đi tiêu, tiểu, nhiều khi kèm thêm cả chứng tràn dịch não.

Đây là một dị tật rất nặng, có các hậu quả nghiêm trọng đến mức ngay trong 24 giờ đầu tiên sau khi đứa trẻ ra đời, bác sĩ phải đặt vấn đề với bố mẹ đứa trẻ và các chuyên gia nhi khoa và phẫu thuật thần kinh xem có nên điều trị hay không nên điều trị gì cả. Hiện nay, người ta chẩn đoán trước được dị tật này ở thai nhi bằng phương pháp siêu âm, ngay từ tuần lễ thứ 16 tới 20 của thời gian sản phụ mang thai.

Nguồn: Sưu tầm

Share this:
Share this page via Email Share this page via Stumble Upon Share this page via Digg this Share this page via Facebook Share this page via Twitter
Print Friendly, PDF & Email

Leave a Reply