230 Lời giải về bệnh tật trẻ em : Phần 4-Những vấn đề có liên quan tới ngực

boy

 

38. NGHẸT THỞ DO CÓ VẬT LẠ TRONG ĐƯỜNG HÔ HẤP

Có nhiều trường hợp Bé bị ngạt thở:

Bi ngạt vì nằm ngủ dưới lớp chăn nên bị thiếu không khí hoặc Bé bị nghẹt thở vì nuốt một vật và vật đó nằm ngáng trên con đường hô hấp. Thí dụ Bé nuốt một củ lạc hoặc một mẩu đồ chơi. Kết quả là Bé bị tắc thở ngay hoặc bị tắc thở dần dần vì vật nuốt mỗi lúc lại bịt kín hơn con đường hô hấp.

Trong trường hợp sau, cháu bắt đầu ho, rồi thở khó nhọc, mỗi lần thở lại có tiếng rên hoặc rít. Mặt Bé sạm dần lại rồi Bé ngưng, không thở nữa.

Phải làm gì khi cháu bé bị ngạt trên giường?

Nếu thấy da bé tím hay xám, người không cử động hoặc bị co giật, hãy để đầu bé ngửa ra phía sau để bé thở dễ hơn.

Nếu thấy không có kết quả gì hãy làm hô hấp nhân tạo cho Bé, nhờ người đi báo bác sĩ hoặc đưa Bé tới trạm cấp cứu ngay.

Nếu bé ngạt vì nuốt phải một vật vào họng:

Nếu bạn nhìn thấy vật đó, hãy thử cố lấy vật đó ra bằng ngón tay của mình và chú ý không làm cho vật tụt sâu thêm vào họng Bé .

Nếu không lấy ra được, hãy làm theo phương pháp Heimlich như sau :

Phương pháp Heimlich: Nội dung chính của phương pháp này là bất chợt ấn mạnh vào vùng dạ dày theo hướng từ dưới lên. Giữ cháu bé ở tư thế đứng hay ngồi (xem hình vẽ). Người chữa cho cháu đứng ở đằng sau, nắm bàn tay trái lại đặt lên bụng cháu ở trên rốn – vị trí của dạ dày – Bàn tay phải nắm lấy nắm tay trái và bất chợt ép mạnh vào bụng cháu theo chiều từ dưới lên trên để cho lượng không khí bị dồn từ phổi ra phía cổ họng sẽ làm bắn vật lạ ra. Có thể làm nhiều lần, lần sau cách quãng với lần trước.

Đối với các trẻ sơ sinh, phải ép bằng các ngón tay và chú ý nương nhẹ vì xương của các cháu còn rất yếu.

Nếu không đạt được kết quả, phải đưa cháu tới bệnh viện. Trên đường đi, không ngừng làm hô hấp nhân tạo.

Ngạt vì khóc: Có trường hợp các cháu nhỏ từ 6 tháng tới 2 tuổi có thể bị ngạt vì khóc. Tiếng khóc của cháu từng đợt bị ngắt quãng vì tiếng nấc. Cháu vội thở nhưng cơn nấc lại đến làm cháu không kịp thở. Cuối cùng cháu ngất đi, mặt tím lại vì thiếu không khí.

Cảnh tượng này dễ làm người lớn lo lắng vì xúc động nhưng không có gì nguy hiểm. Người lớn cần giữ bình tĩnh. Cháu bé sẽ chóng hồi tỉnh và tiếng khóc lại tiếp tục ré lên.

Cần chú ý săn sóc cháu bé hơn nhưng nên tránh để cháu cảm thấy rằng: muốn đòi gì cứ khóc là được!

39. THỞ DỐC

Chứng thở dốc, thở từng cơn hối hả khiến các cháu bé không chạy nhảy, chơi đùa bình thường được như những đứa trẻ khác là một chứng bệnh rất đáng quan tâm. Vì nguyên nhân chứng bệnh này có thể do sự mất sức của toàn cơ thể hoặc bị thiếu máu. Nhưng cũng có thể do có trục trặc về tim hoặc bộ máy hô hấp; cần phải qua xét nghiệm để theo dõi.

40. BÉ THỞ CÓ TIẾNG RÍT

Trừ trường hợp trẻ em ngáy khi ngủ, còn nếu cháu thở mà có tiếng lào xào hay tiếng rít thì phải báo ngay cho bác sĩ biết, nhất là nếu cháu lại bị sốt. Có thể đó là triệu chứng của một bệnh viêm ở mũi họng hay viêm phế quản bình thường, nhưng cũng có thể là những bệnh khác quan trọng hơn như: hen, vật lạ mắc trong cổ, viêm thanh quản v.v…

Có nhiều cháu bé sơ sinh khi thở đã nghe như tiếng gà kêu do thanh quản có cấu tạo hơi khác thường lúc mới sinh. Sau một vài tháng, thanh quản các cháu phát triển và dần dần trở thành bình thường, tiếng kêu kia cũng sẽ mất.

41. NGƯNG THỞ CÁCH QUÃNG

Trong những ngày đầu mới sinh ra, Bé thường thở không đều.

Đôi khi có những đợt ngưng thở chừng vài giây hoặc lâu hơn 10giây đối với các Bé sinh thiếu tháng. Hiện tượng này có thể kèm theo sự giảm nhịp đập của tim, có những biến cố xấu. Do đó, các Bé sinh thiếu tháng cần phải được theo dõi cẩn thận và được nuôi trong các thiết bị khí có máy theo dõi nhịp tim, nhịp thở. Những cơn ngừng thở trong giấc ngủ của trẻ sơ sinh hiện nay được coi như những nguyên nhân phổ biến nhất gây chết đột ngột cho các cháu.

42. NGẠT DO GAZ

Những hơi làm ngạt có thể có trong gia đình là:

– Gaz dùng để đun nấu, thoát ra ngoài vì đường ống có chỗ rò rỉ;

– Khí ôxýt cacbon (CO), là một khí không màu, sinh ra từ cái máy sưởi ấm hay đun nước không hoạt động tốt. Khi có hiện tượng một người trong nhà – lớn hay bé – bị ngạt do gaz, Không được dùng bất cứ một dụng cụ điện nào vì chỉ cần có một tia lửa điện nhỏ sẽ gây ra nguy hiểm khó lường trước được.

Phải:

– Khóa ngay bình gaz lại, mở rộng các cửa, hoặc đưa nạn nhân ra ngoài trời;

– Làm ngay hô hấp nhân tạo cho nạn nhân, nếu nạn nhân không còn thở nữa;

– Nhờ người hàng xóm gọi điện tới cơ quan cứu hỏa.

Nếu nạn nhân ngất, nhưng vẫn thở:

Không được cho nạn nhân uống bất cứ thứ gì. Việc làm này không làm cho nạn nhân tỉnh lại mà có nguy cơ làm nước vào trong phổi, rất nguy hiểm.

Để nạn nhân nằm im, đầu hơi thấp hơn chân, quay đầu sang một bên để tránh không cho lưỡi tụt vào cổ họng và nếu nạn nhân nôn ói, thì không bị nước tràn xuống phổi.

43. HO

Bình thường, những đường hô hấp luôn luôn được giữ gìn sạch sẽ do có những lớp lông nhỏ phủ trên lòng ống không ngừng chuyển động để đẩy các chất bẩn ra ngoài. Ho là một phản ứng của cơ thể, dùng hơi phổi tống các chất lạ hoặc chất nhầy do chính ống dẫn khí đã tiết ra nhiều quá, ra khỏi các ống dẫn khí. Bởi vậy ho là một phản ứng bảo vệ cần thiết của cơ thể, cho nên nhiều khi, không nên tìm cách ngăn cản việc ho.

Để chữa trị bệnh ho, bác sĩ thường đặt nhiều câu hỏi để tìm nguyên nhân như: ho từ bao giờ, hay ho vào lúc nào? tiếng ho vang cao hay khàn khàn? Kèm với việc ho cháu bé có sốt không, có chảy nước mũi không, có khó thở không, có chất nhầy ở phân hay khi bị nôn ói không ?… Bác sĩ còn chú ý xem có phải là cháu bị lây ho gà hay bệnh sởi không?

Chúng ta nên phân biệt nhiều thứ ho khác nhau như sau:

* Ho cấp tính thường kèm theo sốt các trẻ em bị viêm đường hô hấp trên;

* Ho mạn tính do viêm lâu ngày các đường hô hấp trên, như bị viêm xoang chẳng hạn;

* Ho không kèm theo sốt có thể do dị ứng như hen; thường các cháu ho khan và ho từng cơn;

* Ho đêm ở các cháu sơ sinh do các chất nhầy tích tụ làm tắc các đường dẫn khí; để các cháu bé khỏi ho, chỉ cần nhấc cháu bé dậy và bế theo chiều đứng để các chất nhầy tích tụ trong các đường dẫn khí chảy thoát đi; ho đêm cũng có thể là triệu chứng của sự lưu thông ngược chiều của các chất ở đoạn từ miệng tới dạ dày;

* Ho tiếng khàn khàn từng tiếng một có thể do viêm họng;

* Ho từng cơn dài có thể là ho gà. Nếu bất chợt cháu bé ho sặc sụa, không bị sốt nhưng thở khó khăn làm mặt tái đi thì có thể do cháu bé đã nuốt hoặc tống một vật gì vào họng.

Cách chữa trị: Như trên đã nói, nhiều khi không nên ngăn cản bé ho. Các loại thuốc an thần, giảm ho có khi lại có hại làm cho cháu bé khó thở. Bởi vậy, các bác sĩ thường tìm loại thuốc có tác dụng làm loãng các chất nhầy ra để dễ tống chúng ra khỏi các đường ống dẫn khí.

Chỉ khi nào cháu bé ho khan nhiều quá, bị mất sức vì ho ban đêm thì bác sĩ mới cho cháu uống thuốc an thần để làm dịu cơn ho như trong trường hợp cháu bị ho gà. Đối với các cháu bi ho kinh niên, hay bị đi bị lại, người ta thường áp dụng phương pháp vận động hô hấp hỗ trợ việc thở nhân tạo.

44. HO GÀ

Ngày nay, nhờ phương pháp tiêm phòng bệnh, nên ít trẻ em bi bệnh ho gà. Với các cháu nhỏ không được người lớn cho đi tiêm chủng đủ liều thì ho gà vẫn là một bệnh dai dẳng, đáng sợ.

Từ 8 tới 10 ngày sau khi tiếp xúc với một trẻ khác mang bệnh, cháu bé bắt đầu có các triệu chứng bị lây như: sốt nhẹ, bắt đầu ho và càng lúc càng ho nhiều hơn.

Từ ngày thứ 15 trở đi, cháu ho từng cơn. Mỗi cơn ho làm người cháu co dúm lại, mắt đỏ ràn rụa nước mắt. Sau cơn ho, cháu vội hít thở từng hơi dài nghe có những tiếng rít đặc biệt. Đôi khi miệng cháu có những chất dãi dính không nhổ ra được khiến cháu bị nôn ói.

Mỗi ngày cháu nhỏ có thể bị tới mấy chục cơn ho, số cơn càng nhiều chứng tỏ bệnh cháu càng nặng. Hiện tượng này kéo dài từ 2 tới 3 tuần hay hơn nữa, rồi mới thuyên giảm.

Nếu cháu vừa ho vừa sốt thì cháu có thể bị thêm chứng viêm đường hô hấp.

Thuốc kháng sinh ít tác dụng tới bệnh ho gà nên khi trị bệnh, các bác sĩ chủ yếu dùng thuốc an thần làm cho các cháu đỡ ho và ngủ được.

Vì những cơn ho tới bất thường nên phải thay đổi cách ăn của các cháu. Lúc nào cháu ngớt cơn thì tranh thủ cho ăn ngay, không kể giờ giấc.

Đối với các cháu từ 12 – 18 tháng tuổi – Ho gà rất nguy hiểm đối với các cháu bé ở độ tuổi này vì có thể làm cho các cháu chết vì không thở được. Bởi vậy, phải cho cháu nằm bệnh viện để được săn sóc kỹ càng trong một thời gian cần thiết.

Việc tiêm chủng phòng bệnh ho gà thường được phối hợp với việc phòng các bệnh uốn ván, bạch hầu, bại liệt bắt đầu từ 3 tuổi.

Sau khi đã bị lây bệnh, việc tiêm chích thuốc gamma globuline trước khi cháu bé bị lên cơn, cũng có tác dụng làm giảm cơn hoặc ngăn kháng cho các cơn ho xảy tới. Theo nguyên tắc, một trẻ em đã đi nhà trẻ hay tới trường, cần phải để nghỉ ở nhà 1 tháng, kể từ khi Bé bị cơn ho đầu tiên. Việc cách ly cháu bé bị bệnh với các anh, chị em trong nhà cũng cần phải như vậy.

45. HEN

Hen là một bệnh có liên quan tới các phế quản và thể hiện từng cơn do các đường dẫn khí của phổi bị co thắt lại, làm cho bệnh nhân không thở ra được Nguyên nhân của hen có thể giống nguyên nhân của các bệnh dị ứng: cơ thể và nhất là các ống phế quản của phổi phản ứng với các bụi phấn hoa, lông súc vật, bụi, một số vi sinh vật. Xét nghiệm máu hoặc thử nghiệm bằng phương pháp cấy dưới da có thể xác định được chất gây phản ứng hen.

Bệnh hen là một bệnh gia truyền: ông, bà, cha, mẹ, họ hàng có người hen thì các con cháu sau cũng dễ mắc bệnh.

Cơn hen nặng hay nhẹ tùy ở mỗi người, mỗi lúc. Một đứa trẻ lên cơn hen ngồi trên giường, mặt tím tái, đẫm mồ hôi, cố gắng hít thở khó khăn với những tiếng rít đặc trưng của bệnh. Cần an ủi cháu khi bác sĩ chưa tới và không được dùng thuốc gì nếu không được bác sĩ chỉ định từ trước.

Các thuốc chữa hen có tác dụng chủ yếu làm giãn phế quản để cho cơn hen dịu đi. Nếu cơn hen vẫn tiếp diễn, thì cần phải cho cháu vào bệnh viện.

Bệnh hen là một bệnh phải chữa trị lâu dài. Các cơn hen không giống nhau có thể một năm xảy ra đôi lần, nhưng cũng có thể xảy ra nhiều lần trong một tháng, ảnh hưởng tới việc học hành và cuộc sống lâu dài của trẻ. Bởi vậy phải chữa trị tới cùng.

Tâm lý bi quan của trẻ bị bệnh cũng như sự lo âu của các người thân có ảnh hưởng xấu tới tinh thần và làm bệnh thêm trầm trọng Bởi vậy, việc động viên, khuyến khích an ủi người bệnh là những việc làm có tính chất tâm lý, nhưng lại rất cần thiết.

46. VIÊM PHỔI

Ngày nay, các bác sĩ hay nói một cách chung chung: viêm vùng phổi. Cháu bé bị viêm vùng phổi thường có các triệu chứng như: đột nhiên sốt cao, má đỏ, thở gấp (đôi khi cánh mũi phập phồng vì khó thở), ho. Cần phải đưa gấp trẻ tới bác sĩ. Việc chiếu X-quang sẽ cho biết cháu bị viêm phổi có rộng hay không?

Được chữa trị ngay, bằng thuốc kháng sinh, trẻ sẽ khỏi nhanh, trong vài ngày.

47. VIÊM PHẾ QUẢN

Một cháu bé bị cúm hoặc có thể kèm theo ho.

Viêm phế quản nếu được chữa trị ngay khi cháu chỉ bị sốt nhẹ, cháu sẽ khỏi ngay bằng một liều thuốc kháng sinh. Thường thì chứng ho khỏi trong vòng 5 – 6 ngày nhưng cũng có khi kéo dài tới 1, 2 tuần, nhất là với các cháu chưa biết cách khạc đờm ra.

Nếu cháu đã khỏi, rồi lại bị lại, không nên cho cháu uống lại thứ thuốc vừa dùng hãy còn lại. Nên cho cháu đi khám bác sĩ vì chứng ho của cháu rất có thể liên quan tới một chứng viêm mạn tính vùng mũi họng. Ngoài ra còn một số bệnh khác mà bác sĩ cần phải nghe và thử nghiệm mới biết được như bị dị ứng, chẳng hạn.

48. VIÊM PHẾ QUẢN DẠNG HEN

Một số trẻ em bị ho khi thay đổi thời tiết kiểu ho theo mùa.

Chứng này gây bởi virút làm các cháu khó thở và khi thở có tiếng rít giống như hiện tượng hen.

Cháu ho, sốt, bị rối loạn tiêu hóa kéo dài nhiều ngày, bị đi bị lại nhiều đợt, mùa hè rồi lại mùa đông.

Một số cháu có thể chuyển thành hen thực thụ.

Để chữa trị, cần đưa cháu tới các bác sĩ chuyên khoa để hướng dẫn cho cháu về phương pháp thở. Biết cách thở sẽ giảm được cơn bệnh rất nhiều.

49. BỆNH LAO (PHẢN ỨNG THỬ B.C.G)

Hiện nay, bệnh lao không còn hoành hành như thời gian cách đây 30 năm nữa, vì đã có nhiều loại thuốc phòng và chữa trị hiệu nghiệm. Tuy vậy, bệnh vẫn còn tồn tại, nhất là trong số những người cơ nhỡ.

Bệnh lao gây nên bởi vi trùng KOCH (B.K), do sự lây nhiễm trực tiếp. Trẻ em – nhất là các cháu sơ sinh – dễ bị lây bệnh, nên cần phải tiêm phòng cho các cháu bằng vắc-xin B.C.G (vi khuẩn mang tên người tìm ra chúng là Calmette và Guérin). Các cháu có thể bị lây từ một người không biết mình có bệnh hoặc một người có bệnh nhưng lại tưởng là mình đã khỏi rồi.

Giai đoạn bị lây bệnh đầu tiên của một cháu bé chưa tiêm phòng B.K gọi là sơ nhiễm có thể không có triệu chứng gì nổi bật, phải thử nghiệm mới biết được (căn cứ vào kết quả thử nghiệm âm tính hay dương tính). Tuy vậy, cũng có những trẻ có những biểu hiện như: sốt, tình trạng sức khỏe toàn thân bị suy sụp, xuống cân, gầy ốm. Kết quả chiếu X quang cho thấy có những điểm bất thường ở phổi như sự xuất hiện các hạch ở quanh khí quản và ở phổi. Đối với các cháu mới sinh, bệnh lao màng óc là một bệnh cực kỳ nguy hiểm.

Khi thấy một đứa trẻ bị sơ nhiễm lao, người ta thường để ý tìm xem người nào đã lây bệnh sang cháu và thường phát hiện ra ngay trong gia đình hoặc người thường tiếp xúc với cháu.

Việc chữa trị cho một cháu bé bị sơ nhiễm lao rất đơn giản: cho cháu uống thuốc kháng sinh loại chống lao trong thời gian từ 6 đến 9 tháng.

Những phản ứng với thuốc thử lao: Những phản ứng của cơ thể cháu bé đối với thuốc thử lao cho thấy: cơ thể cháu đã tiếp xúc với trùng B.K hoặc cháu đã được tiêm thuốc B.C.G phòng lao rồi.

Người ta tiêm vào dưới da của các cháu một lượng nhỏ các vi trùng lao (B.K) đã bị chết, rồi quan sát trạng thái da ở chỗ tiêm.

* Nếu cơ thể không bị nhiễm B.K và cháu chưa tiêm phòng B.C.G thì không có phản ứng gì ở da: kết quả âm tính.

Nếu cơ thể đã tiếp xúc với B.K hoặc đã chích B.C.G thì da có phản ứng: kết quả dương tính.

Có nhiều cách thử nghiệm: làm trầy một diện tích rất nhỏ da của cháu bé rồi nhỏ một giọt thuốc thử lao lên vết trầy; đắp một lớp pommát (thuốc mỡ) thử lao lên da; dùng kim chích tiêm vào dưới da một lượng nhỏ thuốc thử.

Việc nhận định kết quả của việc thử nghiệm không phải ai cũng làm được, vì phải có chuyên môn và kinh nghiệm. Bởi vậy các bà mẹ cần đưa cháu tới bác sĩ hoặc nơi chuyên môn để bác sĩ hoặc các chuyên viên làm việc. Cần phải đưa cháu tới đúng hẹn, thường là 2 tới 4 ngày sau khi thử. Kết quả dương tính thường có các dấu hiệu như: chỗ chích thử có một vùng đỏ bao quanh, dưới da có một cục sờ thấy cứng hoặc quanh chỗ chích có nhiều điểm nhỏ hơi phồng, màu đỏ.

Có thể có nhiều dấu hiệu tương tự làm người ta lầm là kết quả dương tính. Bởi vậy, muốn chắc chắn, người ta thường tiến hành nhiều cách thử nghiệm, từng đợt cách nhau một khoảng thời gian.

Kết quả dương tính cho biết đứa trẻ đã tiếp xúc với B.K (nếu trước đó, cháu không được tiêm phòng B.C.G).

Nếu kết quả dương tính rất rõ rệt thì cháu vừa bị nhiễm B.K trong thời gian gần đây. Nếu kết quả dương tính không rõ rệt thì khó xác định được thời gian nhiễm bệnh. Bởi vậy, người ta thường thử ít nhất mỗi năm một lần cho các cháu, để dự đoán sự tiến triển của bệnh bằng cách so sánh các kết quả của mỗi lần thử với nhau.

Nội dung việc dùng B.C.G: Khi dùng B.C.G để ngừa bệnh lao người ta chích vào cơ thể các cháu bé những vi khuẩn lao của bò, đã được làm yếu đi tới mức không gây được bệnh nữa nhưng vẫn kích thích được hệ miễn nhiễm của cơ thể cháu bé sản sinh ra các kháng thể chống lại được vi trùng lao, kể cả các vi trùng lao hoạt động ở người.

Cách thực hành: Sau khi đã biết rõ cháu bé đã thử lao kết quả âm tính, bác sĩ truyền ngay B.C.G vào người cháu. Có thể truyền bằng phương pháp làm xước da; hoặc chích thuốc vào dưới da; hoặc uống thuốc. Phương pháp tốt nhất là chích thuốc vào dưới da.

Ba tháng sau mới kiểm tra kết quả và cháu bé phải có kết quả dương tính. Nếu kết quả âm tính thì việc tiêm ngừa vừa rồi chưa đạt yêu cầu, phải tiêm ngừa lại.

Ở nước ta việc chích ngừa cho các cháu bé đã được thực hiện từ lâu. Việc chích ngừa lao B.C.G cần thực hiện càng sớm càng tốt. Vì vậy, người ta thường chích cho các cháu ngay khi mới sinh.

Tất cả mọi trẻ em đều có thể chích ngừa bệnh lao bằng thuốc B.C.G, trừ trường hợp cháu đang bị bệnh nào đó hoặc vừa tiêm ngừa một bệnh khác thì phải tạm hoãn lại một thời gian.

Việc chích B.C.G không làm cho cháu bé bị sốt hoặc có phản ứng gì khác ngoại trừ hiện tượng sau vài tuần, chỗ chích có một cái vẩy nhỏ, ở dưới vẩy có một cục cứng, chung quanh vẩy có một vùng đỏ. Nếu chích dưới da ở cánh tay, có thể nổi hạch ở nách. Có trường hợp hạch sưng to, có mủ nhưng thường sẽ khỏi nhanh.

Việc chích B.C.G phòng lao đã tỏ ra rất hữu hiệu, kể cả đối với các dạng lao nguy hiểm như lao màng óc. Tuy vậy, việc chích phòng phải thực hiện cẩn thận và có quá trình theo dõi về sau.

Đúng là sau khi đã chích ngừa, nếu kết quả dương tính không rõ rệt chứng tỏ khả năng miễn nhiễm yếu, cần phải chích lại. Thật ra, khả năng miễn nhiễm này cũng yếu đi theo thời gian. Bởi vậy, thường các cháu phải thử lao mỗi năm một lần để thấy nếu cần thì chích ngừa lại.

Thời gian và những nhận xét, theo dõi của mỗi lần chích ngừa cần phải được ghi đầy đủ vào sổ y bạ của các cháu.

50. BỆNH TIM BẨM SINH

Bệnh tim bẩm sinh gồm các chứng tim do sự phát triển bất thường ngay từ khi trong bào thai. Có nhiều nguyên nhân tới nay vẫn chưa được biết.

Có nhiều bệnh tim bẩm sinh khác nhau do có sự cấu tạo không bình thường của tim :

* Ở các vách tim hay các van tim.

* Ở các động mạch lớn xuất phát từ tim. Các động mạch này có thể bị hẹp bất thường, bị thay đổi vị trí, bị thông nhau. Một số trường hợp được phát hiện ngay khi Bé vừa mới ra đời, do thấy Bé bị tím tái, bị suy tim nguy hiểm tới tính mạng. Một số trường hợp khác diễn ra ngấm ngầm, Bé chịu đựng được nên mãi sau này khi nghe tim bác sĩ mới phát hiện ra. Trong 20 năm nay, nền y học đã có nhiều tiến bộ về các mặt chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật các bệnh tim bẩm sinh. Có thể chẩn đoán cho cả bào thai trong bụng mẹ bằng phương pháp siêu âm.

Nguồn: Sưu tầm

Share this:
Share this page via Email Share this page via Stumble Upon Share this page via Digg this Share this page via Facebook Share this page via Twitter
Print Friendly

Leave a Reply